Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h


Tiếp tục bán ngoại tệ bình ổn thị trường

Posted: 05 Oct 2011 09:00 AM PDT

(VEF.VN) - Đây là khẳng định mới nhất của Ngân hàng Nhà nước trước tình hình ngoại tệ biến động trong những ngày qua. Ngân hàng Nhà nước khẳng định, chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện hỗ trợ ổn định tỷ giá và lãi suất ngoại tệ.

Bán ngoại tệ, ổn định tỷ giá

Theo Ngân hàng Nhà nước, trong thời gian gần đây, giá vàng thế giới biến động rất mạnh và bất thường cộng với tập quán mua vàng vào của người dân vào quý IV và tâm lý nhận định giá vàng thế giới tiếp tục lên đã thúc đẩy hoạt động đầu cơ, buôn bán vàng trong nước tăng mạnh. Từ đó gây áp lực lên thị trường ngoại tệ và tỷ giá. NHNN đã kịp thời có nhiều giải pháp để ổn định thị trường.

Tuy nhiên, để đối phó với nhu cầu mua vàng gia tăng đột biến trong những ngày gần đây, NHNN sẽ có ngay các biện pháp đủ mạnh để ổn định giá vàng trong nước phù hợp với giá vàng thế giới, chống đầu cơ, buôn lậu vàng qua biên giới ảnh hưởng tới sự ổn định của thị trường ngoại hối, tỷ giá. NHNN và các NHTM sẽ tiếp tục bán ngoại tệ can thiệp thị trường, giải quyết đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cần thiết của nền kinh tế, đảm bảo ổn định tỷ giá từ nay đến cuối năm với mức biến động không quá 1%.

Vì thế, Ngân hàng Nhà nước khẳng định, có đầy đủ cơ sở thực tiễn đảm bảo thị trường ngoại hối, tỷ giá ổn định trong những tháng còn lại của năm 2011, tạo điều kiện để cải thiện tốt hơn trong năm 2012.

Theo số liệu công bố, cán cân thanh toán tổng thể chuyển sang thặng dư nhờ cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính được cải thiện. Theo số liệu thống kê, 7 tháng đầu năm 2011, cán cân thanh toán tổng thể đạt thặng dư trên 5 tỷ USD, trong đó mức thặng dư cải thiện qua từng quý, trong đó quý I/2011 thâm hụt, quý II và quý III/2011 đạt mức thặng dư cao.

Bên cạnh đó, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tính dụng tại NHNN tăng cao trong tháng 9/2011 cho thấy thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng tiếp tục được đảm bảo. Tính đến ngày 29/9/2011, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tính dụng tại NHNN tăng 45,1% so với cuối tháng 8/2011, tương đương với mức tăng thêm 586 triệu USD.

Vì thế, Ngân hàng Nhà nước khẳng định, luồng chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực. Cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, dự trữ ngoại hối nhà nước được củng cố và thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng được đảm bảo trong những tháng vừa qua là cơ sở quan trọng để ổn định tỷ giá USD/VND và lãi suất ngoại tệ trên thị trường trong nước trong những tháng còn lại của năm 2011.

Hy vọng về thặng dư

Theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước, các nguồn ngoại tệ vào Việt Nam như hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và thu hút chuyển tiền kiều hối đều đạt mức tăng ấn tượng.

Trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 146,9 tỷ USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó: kim ngạch xuất khẩu ước đạt 70 tỷ USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ 2010; nhập khẩu ước đạt 76,9 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2010.

Đây là những mức tăng trưởng rất cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới còn gặp nhiều khó khăn và biến động khó lường. Diễn biến cho thấy, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều có xu hướng tăng qua từng quý nhưng xuất khẩu luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nhập khẩu. Nhờ đó, nhập siêu được cải thiện dần.

Trong khi đó, tính chung 9 tháng đầu năm 2011, nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 9,8%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu kiểm soát nhập siêu 16%.

Bên cạnh đó, cán cân dịch vụ cũng được hỗ trợ nhờ hoạt động xuất khẩu du lịch. Trong 9 tháng đầu năm 2011, thu từ xuất khẩu du lịch đạt 2,8 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm và ước đạt trên 4 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2011.

Chuyển tiền một chiều của khu vực tư nhân trong 7 tháng đầu năm 2011 có sự cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2010. Việt Nam đã thu hút được 5,6 tỷ USD chuyền tiền một chiều của khu vực tư nhân (bao gồm cả chuyển tiền của người lao động Việt Nam ở nước ngoài và kiều hối), tăng 42,7% so với cùng kỳ năm 2010.

Ngân hàng Nhà nước nhận định, với những yếu tố tích cực nêu trên, cán cân vãng lai đã được cải thiện đáng kể. Tính chung 7 tháng đầu năm 2011, cán cân vãng lai thặng dư 1,3 tỷ USD (cùng kỳ năm 2010 thâm hụt 3,2 tỷ USD)

Cùng với đó, thặng dư cán cân vốn và tài chính tăng khá so với cùng kỳ năm 2010.

Cụ thể, về vốn FDI, trong 7 tháng đầu năm 2011, vốn FDI thực hiện của phía nước ngoài đạt 4,7 tỷ USD. Nếu trừ đi 530 triệu vốn FDI của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, lượng vốn FDI vào ròng trong 7 tháng đầu năm 2011 đạt 4,17 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2011, FDI ước tính đạt 6,1 tỷ USD, tương đương mức cùng kỳ năm 2010.

Về vốn đầu tư gián tiếp, 7 tháng đầu năm 2011, vốn đầu gián tiếp vào Việt Nam ước đạt 700 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010 và trong 9 tháng đầu năm 2011, ước đạt 1 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010

Ngoài ra, hệ thống ngân hàng tích cực rút tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài và huy động vốn trên thị trường quốc tế để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng ngoại tệ trong nước trong 7 tháng đầu năm 2011 trở thành nguyên nhân quan trọng góp phần cải thiện cán cân vốn và tài chính.

Nhờ nguồn vốn vào khá ổn định và theo xu hướng cải thiện trong 9 tháng đầu năm. Chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2011 cán cân vốn và tài chính thặng dư 9,8 tỷ USD, tăng hơn gấp 2 lần mức thặng dư 4,57 tỷ USD của cùng kỳ năm 2010.

Nới 'vòng kim cô' tín dụng nhóm phi sản xuất

Posted: 05 Oct 2011 02:38 AM PDT

(VEF.VN) - Thông báo mới nhất từ NHNN, sau cuộc họp với 12 ngân hàng lớn chiều 4/10, các bên liên quan đã thống nhất tiếp tục chấn chỉnh kỷ luật lãi suất, bình ổn ngoại tệ; giảm lãi suất cho vay... Đặc biệt, sẽ đưa một số đối tượng ra khỏi nhóm phi sản xuất.

Kiểm soát cho vay ngoại tệ

Tại cuộc họp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình và lãnh đạo các ngân hàng thương mại đã thống nhất sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ, giảm quy mô và tốc độ  phù hợp với khả năng huy động vốn bằng ngoại tệ trên thị trường và các nguồn vốn ổn định lâu dài từ nước ngoài.

Đồng thời, sẽ kiểm soát chặt chẽ đối với trường hợp vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng không có nguồn thu bằng ngoại tệ từ sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay.

Các bên cũng thống nhất từng bước thực hiện tốt chủ trương chuyển dần quan hệ nhận gửi và cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua bán ngoại tệ để giảm tình trạng đô-la hóa trong nền kinh tế.

Lãnh đạo NHNN lưu ý, việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài để mở rộng cho vay bằng ngoại tệ sẽ tăng rủi ro thanh khoản.

Nói về định hướng điều hành tỷ giá cuối năm, cơ quan này tiếp tục khẳng định sẽ đánh giá đúng quan hệ cung cầu của nền kinh tế để điều hành tỷ giá và mức độ can thiệp của NHNN một cách thích ứng, đảm bảo mức độ biến động của tỷ giá không quá 1% từ nay đến cuối năm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế.

Hơn nữa, sẽ kịp thời có giải pháp đủ hiệu lực và khả năng cần thiết làm giảm đến mức tối đa chênh lệch giữa giá vàng trong nước với quốc tế, chống đầu cơ vàng và tác động ảnh hưởng đến thị trường ngoại tệ và tỉ giá.

Lĩnh vực bất động sản đang đói vốn.

Đối với thực thi kỷ luật lãi suất, lãnh đạo các ngân hàng và NHNN cho rằng, hầu hết các NHTM đã thực hiện nghiêm túc quy định về trần lãi suất huy động bằng VND và ngoại tệ, trường hợp vi phạm đã được phát hiện và xử lý kịp thời.

Huy động vốn và tín dụng 20 ngày đầu tháng 9 giảm nhưng đã có biểu hiện tăng trở lại từ ngày 23/9/2011. Ngân hàng Nhà nước lưu ý, thời gian tới, việc nguồn vốn huy động VND giảm sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản của một số TCTD.

Vì thế, cơ quan này cho hay sẽ giám sát chặt chẽ tình hình thanh khoản của thị trường, chủ động phát hiện các TCTD có biểu hiện hay nguy cơ mất khả năng thanh khoản để có biện pháp xử lý kịp thời, không để bất kỳ ngân hàng nào mất khả năng thanh khoản.

Trước tình trạng một số ngân hàng áp dụng các hình thức khuyến mại đối với các khoản tiền gửi cộng mức lãi suất tiền gửi đã vượt trần cho phép, các ngân hàng lớn tại cuộc họp cho rằng, NHNN cần ban hành ngay văn bản quán triệt việc chấp hành nghiêm túc quy định, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Nếu phát hiện ngân hàng nào có biểu hiện về tình trạng trên sẽ xử lý nghiêm. Phát động toàn hệ thống đấu tranh với hành vi cạnh tranh không lành mạnh vượt trần lãi suất huy động dưới mọi hình thức.

Giảm lãi suất, nới cho vay tín dụng

Đối với lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khẳng định kiểm soát nghiêm tăng trưởng tín dụng dưới 20% theo hướng không nhất thiết phải sử dụng hết dư địa tăng trưởng tín dụng còn lại, ưu tiên và tập trung vốn với lãi suất hợp lý cho nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nợ xấu. Đảm bảo cơ cấu lãi suất điều hành của NHNN phù hợp.

Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại cũng đã thống nhất sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để đưa mặt bằng lãi suất cho vay trong biên độ 17-19% đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường.

Các TCTD sẽ thường xuyên theo dõi, điều hoà vốn, đảm bảo thanh khoản trong hệ thống; có phương án cân đối vốn để đáp ứng các nhu cầu thanh toán trong những tháng cuối năm; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ về chất lượng tín dụng để kiểm soát nợ xấu.

Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đang cùng các bộ, ngành liên quan khẩn trương nghiên cứu, rà soát để công bố một số đối tượng, lĩnh vực phục vụ an sinh xã hội không nằm trong danh mục các ngành phi sản xuất, tạo điều kiện về lãi suất cho vay.

Nếu điều này thành hiện thực thì nhiều nhóm đối tượng sẽ thoát khỏ "vòng kim cô" phi sản xuất để tiếp tục được vay vốn. Những DN và đối tượng trông chờ nhất từ tín hiệu này chính là khu vực bất động sản - vốn đã có nhiều ý kiến về việc phân biệt sản xuất và phi sản xuất. Bộ Xây dựng cũng nhiều lần có ý kiến về vấn đề này để bơm vốn cho một số phân khúc bất động sản cần thiết.

Tiếp tục truy thu thuế tại DN FDI giả lỗ

Posted: 05 Oct 2011 01:47 AM PDT

18645

9

/2011-10-05-tiep-tuc-truy-thu-dn-fdi-gia-lo-de-tron-thue

Kinh tế 24h

Tác giả: PV

Bài đã được xuất bản.: 05/10/2011 15:47 GMT+7

(VEF.VN) - Bộ Tài chính cho biết, cơ quan này sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp FDI báo lỗ 3 năm liên tục (2008-2010) để chống chuyển giá và gian lận thuế, tạo sự cạnh tranh bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

Chỉ riêng trong 8 tháng 2011, cơ quan này đã thực hiện thanh tra, kiểm tra tại 107 doanh nghiệp, qua đó đã kiến nghị giảm lỗ, giảm khấu trừ thuế giá trị gia tăng với số tiền là 2.230,6 tỷ đồng...

Để chống thất thu, ngành thuế cũng tổ chức thanh tra, kiểm tra tổng số 2.423 doanh nghiệp, kết luận truy thu và phạt 1.702 tỷ đồng; kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế 18.592 cuộc, kết luận truy thu 1.962 tỷ đồng và kiểm tra tại cơ quan thuế 856.865 hồ sơ. Theo đó, yêu cầu điều chỉnh 11.840 hồ sơ, ấn định 1.327 hồ sơ, số thuế điều chỉnh tăng 416 tỷ đồng.

Dự kiến, năm này cơ quan thuế sẽ thanh tra tại 870 doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá hoặc khai lỗ trong 3 năm liên tiếp (năm 2008, 2009 và 2010). Cũng trong năm nay, Bộ Tài chính sẽ tập hợp các DN đã có số lỗ lớn hơn vốn chủ sở hữu đề nghị Bộ Kế hoạch - Đầu tư xem lại quy định về tư cách pháp nhân và có quy định pháp lý phù hợp.

Tình trạng DN FDI báo lỗ triền miên để chuyển giá và trốn thuế. Năm 2010, Bộ Tài chính đã thay đổi các quy định về vấn đề này để kiểm soát tốt hơn. Tính từ năm 2008 đến 2010,  Bộ Tài chính đã thanh tra 127 DN FDI báo cáo lỗ nhiều liên tục trong 3 năm và xác định khai lỗ không đúng thực tế. Số tiền truy thu về cho ngân sách là 1.450 tỉ đồng.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Thị trường thuê văn phòng lội ngược dòng ngoạn mục

Posted: 05 Oct 2011 01:00 AM PDT

18646

9

/2011-10-05-thi-truong-thue-van-phong-loi-nguoc-dong-ngoan-muc

Kinh tế 24h

Tác giả: Nguyễn Nga

Bài đã được xuất bản.: 05/10/2011 15:00 GMT+7

(VEF.VN) – Khác với sự ảm đạm của các quý liền trước, thị trường văn phòng cho thuê tại Hà Nội trong quý III ghi nhận có những dấu hiệu tích cực cả về công suất lẫn giá thuê.

Báo cáo thị trường Bất động sản Hà Nội trong quý III của Công ty tư vấn và tiếp thị Savills Việt Nam đưa ra hôm 5/10 cho thấy, tỷ lệ lấp đầy và giá thuê tiếp tục được cải thiện ở mảng văn phòng.

Cụ thể, trong 3 tháng vừa qua, thị trường đón nhận thêm 70.000 m2 văn phòng từ 5 tòa nhà mới đi vào hoạt động, trong đó 4 tòa nhà hạng B và 1 tòa nhà hạng C. Đưa tổng nguồn cung lên hơn 868.000 m2 - tăng 9% so với quý II và tăng 21% so với cùng kỳ năm trước.

Điều đáng mừng là, dù nguồn cung tăng mạnh nhưng vẫn không làm giảm công suất thuê và giá thuê như lẽ thường.

Diện tích văn phòng cho thuê thêm đạt xấp xỉ 36.600 m2 - tăng mạnh, 59% so với quý trước.

Theo bà Đỗ Thu Hằng - phụ trách bộ phận nghiên cứu của Savills, công suất thuê toàn thị trường vẫn ổn định ở mức 86%. Giá thuê tiếp tục nhích lên thêm khoảng 2%, đạt mức trung bình 25,5 USD/m2/tháng.

Trong đó, thị trường văn phòng hạng A không có nguồn cung mới, tỷ lệ lấp đầy đạt 87% - tăng nhẹ so với quý trước. Đây là tín hiệu tích cực sau 3 quý (kể từ quý IV/2010) ghi nhận mức giảm liên tiếp.

Đối với văn phòng hạng B, công suất thuê đạt 85%, giá thuê ổn định ở mức 25,6 USD/m2/tháng. Tỷ lệ lấp đầy cao nhất thuộc về văn phòng hạng C với con số 88% - tăng 8% so với quý II; giá thuê trung bình đạt 17,7 USD/m2/tháng, so với mức trung bình 17 USD/m2/tháng của năm ngoái.

Điểm nổi bật trong quý III là nhà đầu tư bắt đầu quan tâm hơn đến thị trường văn phòng để bán hay còn gọi là hình thức thuê mua dài hạn, bao gồm 9 tòa nhà từ 6 quận nội thành.

Giá chào thuê sơ cấp ở các hạng văn phòng để bán dao động trong khoảng từ 1.000 - 2.150 USD/m2 cho thời hạn thuê mua từ 32-49 năm, chưa bao gồm VAT.

Dự báo, thị trường văn phòng quý IV tại Hà Nội sẽ đón nhận thêm khoảng 170.000 m2 sàn. Đây là con số lớn hơn hẳn so với các quý trước đây.

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Được đà, USD nhắm mốc 22.000 đồng

Posted: 05 Oct 2011 01:30 AM PDT

(VEF.VN) - Sau động thái của Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá chính thức thêm 10 đồng, thị trường tự do liên tiếp tăng mạnh. Trong ngày 5/10, giá USD tự do đã tăng gần 100 đồng.

Đến 15 giờ chiều ngày 5/10, giá USD tự do ở Hà Nội đã lên đến mức 21.570 - 21.630 đồng/USD, tăng 80 đồng/USD so với sáng nay. Thậm chí, trước đó, có thời điểm, giá USD đã được đẩy lên đến 21.650 đồng khi cao điểm mua bán.

Như vậy, chuỗi tăng giá USD đã liên tiếp được đẩy mạnh lên, sau khi vượt qua mốc 21.200 vào cuối tháng trước, giá USD nhũng ngày đầu tháng 10 đã liên tục tăng mạnh hơn 300 đồng cho đến thời điểm này.

Đây có thể xem là mức tăng giá mạnh nhất của USD trong thời gian từ đầu năm đến nay. Điều này khiến cho thi trường USD vốn ảm đạm trong thời gian qua đã bùng nổ giao dịch trở lại.

Sáng và trưa nay, chợ giao dịch USD vốn nổi tiếng ở Hà Trung - Hà Nội đã hoạt động rất sôi động và người đổ đến mua bán rất động. Đây là cảnh hiểm gặp trong thời gian gần một năm qua khi cơ quan chức năng ra tay chấn chỉnh các hoạt động giao dịch USD tự do.

Hầu hết người dân đến đây mau bán đều có xu hướng mua vào vì lo ngại USD còn đắt hơn theo chu kỳ cuối năm.

Giới kinh doanh cũng cho rằng, USD đắt lên bên cạnh các yếu tố mua gom đẻ nhập khẩu vàng thì chu kỳ đắt lên của USD cuối năm đã được dự báo sẽ lại đến bất chấp những cam kết ổn định của cơ quan quản lý đối với tỷ giá chính thức.

Cuối năm, các doanh nghiệp và người dân phải lo chạy mua gom USD để trả nợ ngắn hạn, nhu cầu mua USD sẽ tăng lên mạnh hơn khi tỷ gái có dấu hiệu tăng khiến người dân đổ xô mua vào để tranh rủi ro tăng giá cao hơn. Đặc biệt, khi ngân hàng hạn chế việc bán USD cho các đối tượng thì thị trường tự do càng có thêm lý do để nâng giá.

Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cuối năm cũng sẽ tăng lên, tạo sức ép lên các ngân hàng và thị trường. Còn nhập siêu vẫn tiếp tục tăng lên trong tháng 9 đẩy cán cân thanh toán tiếp tục bị thâm hụt.

Đặc biệt, thời gian qua, một số ngân hàng đã vay một khoản nợ ngoại tệ khá lớn đối với các ngân hàng nước ngoài nay cũng đến hạn trả nợ khiến cho ngân hàng cũng trở thành đối tượng mua gom USD để trả nợ. Tất cả những áp lực này sẽ khiến tỷ giá tiếp tục tăng lên.

Việc tăng giá ở USD chợ đen đã lan vào tận các ngân hàng, khi việc mua USD đang trở nên khó khăn và chịu nhiều chi phí hơn khiến tỷ giá thực cao hon. Lo ngại nhất hiện nay là nếu đã tăng giá USD khôngđược kìm lại, thời điểm cuối năm sẽ càng khiến tỷ giá căng thẳng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối mà còn gây áp lực lên lạm phát.

Ngân hàng mở rộng thanh toán thẻ quốc tế

Posted: 04 Oct 2011 09:48 PM PDT

18642

9

/2011-10-05-ngan-hang-mo-rong-thanh-toan-the-quoc-te

Kinh tế 24h

Tác giả: PV

Bài đã được xuất bản.: 05/10/2011 11:48 GMT+7

(VEF.VN) - Liên tiếp các ngân hàng và liên minh thanh toán có các động thái mở rộng hoạt động thanh toán thể quốc tế. Đây là cách để các ngân hàng gia tăng hoạt động dịch vụ của mình.

Ngày 4/10/2011, VietinBank đã phối hợp với đối tác Nhật Bản ra mắt thẻ tín dụng quốc tế Cremium JCB đầu tiên tại Việt Nam sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế JCB lần đầu tiên được phát hành tại Việt Nam.

Khách hàng có thể dùng thẻ để thanh toán hàng hoá và dịch vụ tại hơn 34 nghìn điểm chấp nhận thẻ JCB tại Việt Nam và hơn 18 triệu đơn vị chấp nhận thẻ tại 190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Khách hàng có thể thanh toán tại quầy giao dịch, chuyển khoản tại ATM hoặc thanh toán theo hình thức trích nợ tự động từ tài khoản thẻ E-Partner toàn bộ số tiền đã chi tiêu bằng thẻ hay đăng ký sử dụng dịch vụ trả góp bằng thẻ tín dụng cho số tiền chi tiêu bằng thẻ trong thời gian 24 tháng với lãi suất trả góp cực kỳ ưu đãi.

Trước đó, vào cuối tháng 9, ABBank đã cho ra đời sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế - ABBANK Visa. Trước đó, ABBank đã kết nối và ra đời Thẻ thanh toán quốc tế ABBANK VISA. Với hạn mức tín dụng tối đa lên tới 100 triệu đồng, khi sử dụng ABBANK Visa Credit khách hàng có thể "chi tiêu trước - trả tiền sau" trong vòng tối đa 45 ngày mà không bị tính lãi.

Trpng một động thái khác, Công ty Cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc gia Việt Nam (Banknetvn) và Công ty Chuyển mạch Thẻ Liên bang Nga (Union Card - UC) cũng thực hiện việc kết nối Hệ thống thanh toán thẻ giữa hai quốc gia Việt Nam - Liên Bang Nga.

Theo đó, hai bên sẽ kết nối mạng lưới thanh toán thẻ ATM/POS của Việt Nam và Nga qua Banknetvn và UC, cho phép khách hàng là chủ thẻ ghi nợ nội địa của bất kỳ ngân hàng Việt Nam nào kết nối với hệ thống Banknetvn cũng có thể thực hiện các giao dịch rút tiền, mua sắm, chuyển tiền... trên thiết bị ATM, POS tại Nga mà thuộc mạng lưới của UC và ngược lại.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Moody’s hạ tín nhiệm tín dụng của Ý

Posted: 04 Oct 2011 09:37 PM PDT

18641

9

/2011-10-05-moody-s-ha-tin-nhiem-tin-dung-cua-y

Kinh tế 24h

Tác giả: Bích Ngọc (Theo CNN)

Bài đã được xuất bản.: 05/10/2011 11:37 GMT+7

Một dấu hiệu khác về điều kiện tài chính khó khăn ở châu Âu là Moody's đã hạ ba bậc xếp hạng tín dụng của Ý với đánh giá là tài chính nước này có "triển vọng tiêu cực".

Xếp hạng tín dụng của Ý bị hạ từ mức Aa2 xuống A2, Moody's lưu ý rằng nguy cơ vỡ nợ của Ý vẫn còn xa nhưng tương đối cao. Tuy nhiên, những rủi ro ngày càng tăng do cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu là cơ sở cho quyết định của Moody's.

Cơ quan xếp hạng tín dụng  này cho biết lo ngại rằng Italy có thể phải chi nhiều tiền hơn để vay, và lưu ý rằng nước này sẽ phải tái tài trợ hơn 200 tỷ Euro để trang trải nợ nần vào năm tới.

Moody's cho rằng "tâm lý thị trường mỏng manh trong khu vực đồng Euro có thể dẫn đến chi phí tài chính và rủi ro tài trợ vật chất tăng lên."

Moody's cũng chỉ ra những "yếu điểm về cơ cấu kinh tế" của Italia - trong đó năng suất thấp là một "trở ngại" để phục hồi kinh tế.

Cuối cùng, cơ quan xếp hạng này bày tỏ lo ngại rằng Ý có thể sẽ không hoàn thành được các mục tiêu giảm nợ và điều này có thể khiển Ý nhạy cảm hơn trước những cú sốc thị trường.

Moody cho biết họ hy vọng tỷ lệ nợ công theo GDP của Italia đạt 120% vào cuối năm nay, tăng từ 104% khi bắt đầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Trước đó hai tuần, Standard & Poor cũng hạ giảm xếp hạng tín dụng của Italia xuống còn A + A và cho biết triển vọng kinh tế của nước này vẫn còn  tiêu cực.

Italia nói gì?

Thủ tướng Italia Silvio Berlusconi cho biết quyết định hạ xếp hạng tín dụng của Italia đã được Moody's dự kiến trước ​​và khẳng định rằng chính phủ nước này sẽ thực hiện tốt các mục tiêu ngân sách đã cam kết.

"Quyết định của Moody's đã được dự kiến trước​​", ông Berlusconi nói trong một tuyên bố ngay sau khi Moody's hạ xếp hạng của Ý từ Aa2 xuống còn A2, triển vọng tiêu cực.

"Chính phủ Ý đang nỗ lực một cách tối đa để đạt được các mục tiêu ngân sách của mình,"  thủ tướng Italia nói thêm về kế hoạch của mình, trong đó có mục tiêu để cân bằng ngân sách vào năm 2013, kế hoạch đã được Ủy ban châu Âu hoan nghênh và phê duyệt.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Bank of American ngừng cho vay thế chấp

Posted: 04 Oct 2011 09:10 PM PDT

18638

9

/2011-10-05-bofa-ngung-cho-vay-the-chap

Kinh tế 24h

Tác giả: Bích Ngọc (Theo Reuters)

Bài đã được xuất bản.: 05/10/2011 11:10 GMT+7

Bank of America cho biết sẽ ngừng cho vay thế chấp vào cuối năm nay sau một thời gian dài không có một khách hàng nào.

Ngân hàng lớn nhất nước Mỹ cho biết trong tháng 8 rằng đã có hoạch để thoát khỏi hoạt đông kinh doanh này bằng cách hoặc bán nó hoặc không làm nữa. Các quỹ cho vay được quản lý từ các ngân hàng nhỏ. Bank of America vẫn sẽ tiếp tục cho vay trực tiếp đối với khách hàng lẻ.

Kể từ sau khi nhận chức vào năm ngoái, Giám đốc điểu hành của  Bank of America, Brian Moynihan đã tiến hành các hoạt động kinh doanh  mang tính rủi ro cao hơn khi  huy động vốn để bù lỗ cho vay thế chấp và để đáp ứng các tiêu chuẩn vốn quốc tế mới.

Phát ngôn viên của ngân hàng, Rick Simon cho biết Ngân hàng sẽ chuyển giao 1.200 nhân viên dư thừa cho các doanh nghiệp khác.

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Doanh nghiệp FDI bỏ trốn: Biết đòi nợ ai

Posted: 04 Oct 2011 08:58 PM PDT

Tác giả: Thiện Phúc - P. Anh

Trong vòng 2-3 năm qua, có hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam do làm ăn yếu kém, hoặc không thuận lợi bị phá sản, giải thể hoặc do có dấu hiệu lừa đảo, chiếm dụng vốn từ đầu, tự giải thể, bỏ trốn. Những doanh nghiệp này đã không trả đủ, thậm chí không trả vốn vay từ các tổ chức tín dụng.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy, có không ít nhà đầu tư FDI vào Việt Nam với ý tưởng "tay không bắt giặc". Họ có chút ít vốn rồi vào kê khai quá mức, lập dự án lớn, kê khai khống cơ sở hạ tầng dự án để vay tiền ngân hàng rồi từ đó đầu tư, lập doanh nghiệp ở Việt Nam.

"Mỡ nó rán nó"

Điều này có thể thấy khá rõ ở khối các doanh nghiệp Đài Loan và Hàn Quốc. Theo thống kê trong các năm 1998 - 2010, ở một số địa phương, vốn thực hiện dự án thấp hơn đăng ký ban đầu rất nhiều lần, chỉ đạt khoảng trên 5 tỉ USD. Trong đó, vốn chuyển từ nước ngoài vào chỉ trên 3,36 tỉ USD, còn lại là vốn vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng trong nước.

Một ví dụ cụ thể như tại tỉnh Hải Dương, từ năm 2005, UBND tỉnh này chấp thuận cho tập đoàn Kenmark (Đài Loan) đầu tư 500 triệu USD vào khu công nghiệp Việt Hoà ở thành phố Hải Dương. Do có nhiều lợi thế: là dự án xây dựng các khu sản xuất công nghiệp, kinh doanh - dịch vụ, khu đô thị, được định hướng trong quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Hải Dương nên chủ đầu tư đã dễ dàng vay vốn hàng chục triệu USD từ các ngân hàng: SHB chi nhánh Quảng Ninh, ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Thành Đô, Habubank chi nhánh Bắc Ninh...

Hiện có hơn 230 dự án của các doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc được cấp chứng nhận đầu tư, giấy phép hoạt động nhưng đã giải thể, phá sản. Ảnh mang tính minh hoạ

Nhưng cho đến tháng 5/2010, hai nhà máy của Kenmark đột ngột ngừng sản xuất. Chủ đầu tư bỏ về nước do xảy ra một số tranh chấp trong việc thực hiện dự án. Các khoản nợ của Kenmark tại các tổ chức tài chính Việt Nam khoảng 50 triệu USD dĩ nhiên đã trở thành món nợ xấu đáng kể. Các ngân hàng đã kê biên tài sản của doanh nghiệp này.

Hay tại Phú Thọ, ông Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng ban quản lý khu công nghiệp của tỉnh này, cũng thừa nhận có tình trạng nhiều chủ đầu tư doanh nghiệp FDI bỏ trốn thậm chí có dấu hiệu lừa đảo ngân hàng để lại gánh nặng cho một số tổ chức tín dụng. Ông Hùng nói: "Không ai nghĩ khi họ đến hoành tráng thế rồi để lại một cục nợ và gây ra nỗi đau lớn cho toàn tỉnh".

Trách nhiệm của ngân hàng

Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện có hơn 230 dự án của các doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc được cấp chứng nhận đầu tư, giấy phép hoạt động nhưng đã giải thể, phá sản. Trong đó, có một số chủ đầu tư doanh nghiệp FDI có khả năng là lừa đảo do chỉ xin giấy chứng nhận đầu tư để vay vốn sau đó đã rút về nước không thực hiện dự án, chiếm đoạt vốn vay. Hiện nay có 22 dự án tại 12 địa phương nợ ngân hàng không có khả năng trả với số tiền gần 80 triệu USD, chủ yếu ở hai tỉnh Hải Dương và Phú Thọ.

Tại Phú Thọ, ông Vũ Văn Minh, Giám đốc Agribank Phú Thọ thừa nhận có một số công ty của Hàn Quốc đã vay trên 12 triệu USD từ ngân hàng này, nhưng khi triển khai dự án, thua lỗ, không trả nợ được nên đã bỏ trốn về nước. Ông này cho biết, UBND tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thu hồi giấy phép đầu tư của những công ty này. Agribank Phú Thọ đã phát mãi toàn bộ mặt bằng nhà xưởng, máy móc của các công ty này, tìm kiếm nhà đầu tư tiếp nhận nhà máy để thu hồi nợ đọng. Tuy nhiên, hiện nay, số tiền thu hồi lại mới chỉ đạt gần 60.000 USD.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI sử dụng dự án để vay vốn ngân hàng dưới hình thức tài sản đảm bảo là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản được hình thành từ vốn vay. Nhưng theo một chuyên gia nghiên cứu về đầu tư nước ngoài, nhiều khi, các tổ chức tín dụng, ngân hàng lại thẩm định giá trị tài sản trên hồ sơ khai báo của doanh nghiệp là chính mà không xét theo đúng giá trị thực tế của tài sản này.

Thực tế khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI bỏ trốn ở Phú Thọ cho thấy, cơ sở không ít doanh nghiệp rất nghèo nàn, công nghệ lạc hậu, giá trị đất không cao như họ kê khai. Một số lãnh đạo ngân hàng thừa nhận, nhiều chủ doanh nghiệp FDI kê khai tăng giá trị quá mức để được vay vốn, đến khi họ bỏ trốn, kiểm tra thì mới phát hiện không đạt như vậy. Do đó, với những hậu quả đã xảy ra, chính các ngân hàng, các bộ phận chuyên môn khi thẩm định cho vay vốn phải chịu trách nhiệm nhất định.

Có lẽ một phần vì thực trạng này, ngày 19.9 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 1617/CT-TTG gửi lãnh đạo các bộ, UBND cấp tỉnh chấn chỉnh việc cấp phép, quản lý sau cấp phép các dự án FDI trong đó có yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư về tiến độ góp vốn, huy động vốn, cũng như hoạt động xây dựng, môi trường, chuyển giao công nghệ, thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động.

(Theo SGTT)

Kinh tế toàn cầu vẫn tranh tối tranh sáng

Posted: 04 Oct 2011 08:20 PM PDT

Bầu không khí trên các thị trường hàng hóa như vàng, dầu, chứng khoán tiếp tục căng thẳng, bởi những mối nguy như nợ công châu Âu, kinh tế Mỹ vẫn thi thoảng được xoa dịu bằng những lời hứa suông. Nhà đầu tư có vẻ đã quá ngán ngẩm với điều này và sự thăng giảm của thị trường đang lệ thuộc phần lớn vào các yếu tố kỹ thuật.

Hôm qua, phát biểu trước Ủy ban kinh tế liên hợp của Quốc hội Mỹ, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke cảnh báo rằng, việc các nhà lập pháp Mỹ chống lại những quyết định ngân sách có thể làm chậm đà hồi phục. Theo ông, FED chuẩn bị có thêm hành động để thúc đẩy kinh tế hồi phục mạnh mẽ hơn, song song với việc ổn định thị trường giá cả.

Ông Bernanke cho rằng, trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng việc làm yếu làm giảm niềm tin của người tiêu dùng, các nhà lập pháp không nên cắt giảm chi tiêu quá nhanh trong ngắn hạn ngay cả khi họ gặp khó khăn trong việc cắt giảm thâm hụt trong dài hạn. Việc thắt chặt hầu bao của Chính phủ Mỹ có thể kéo lùi đáng kể nền kinh tế lớn nhất thế giới này.

Theo Chủ tịch FED, tình hình tài chính châu Âu đang chứa đựng những bất ổn, liên tục đe dọa tăng trưởng kinh tế Mỹ, làm cho các hộ gia đình và doanh nghiệp mất niềm tin. Thêm vào đó, sự đi xuống của thị trường nhà đất cũng như các biện pháp thắt chặt tín dụng đã khiến tăng trưởng bị chặn đứng. Ông cho biết không thấy nhiều triển vọng thị trường lao động sẽ sớm được cải thiện.

Cùng ngày, Pháp và Bỉ cũng vào cuộc "giải cứu" ngân hàng Dexia liên doanh giữa 2 nước sau khi Moody's cảnh báo ngân hàng này có thể trở thành định chế tài chính lớn đầu tiên ở châu Âu bị phá sản kể từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng nợ công. Theo đó, hai chính phủ quyết định phối hợp với ngân hàng trung ương 2 nước này thực hiện các bước đi cần thiết, bảo vệ các khách hàng và chủ nợ của Dexia.

Trong đó, Paris và Brussels sẽ bảo lãnh cho bất kỳ nguồn tài chính nào mà Dexia huy động được. Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp cho biết kế hoạch giải cứu tương đương số tiền bảo lãnh vỡ nợ trị giá 6,4 tỷ Euro mà Dexia nhận được hồi năm 2008. Bộ trưởng Bộ Tài chính Bỉ cũng xác nhận một trong những sự lựa chọn là thành lập "ngân hàng nợ khó đòi" để tiếp nhận những khoản nợ rủi ro nhất của Dexia.

Những yếu tố không rõ ràng đang ảnh hưởng xấu tới thị trường hàng hóa các loại, như vàng (Ảnh: AP)
Thông báo sau cuộc họp khẩn cấp kéo dài 6 tiếng ngày 3/10 của Ban lãnh đạo Dexia cho biết, khủng hoảng nợ công diễn biến xấu đi và những căng thẳng trên thị trường liên ngân hàng buộc Dexia phải thúc đẩy kế hoạch cơ cấu lại, công bố tháng 5 vừa qua. Tuy nhiên, quy mô danh mục các tài sản không thuộc tầm chiến lược đang gây trở ngại cho kế hoạch này.

Người đứng đầu liên đoàn khu vực tài chính của Bỉ Jean-Michel Cappoen cho biết theo thông tin mà liên đoàn này nhận được sau cuộc họp của Ban lãnh đạo Dexia, toàn bộ ngân hàng này sẽ được rao bán. Ngay sau khi có tin Dexia có nguy cơ phá sản, cổ phiếu của ngân hàng này đã mất giá hơn 37% đầu phiên giao dịch cùng ngày, sau đó chỉ giảm 20%.

Tuy nhiên, những thông tin đáng chú ý trên mới chỉ dừng lại ở những tuyên bố, mà chưa có hành động nào cụ thể được thực hiện, trong khi nhà đầu tư đã quá chán ngán với những lời hứa suông. Bởi vậy, các thị trường hàng hóa phiên giao dịch đêm qua chủ yếu diễn biến theo các yếu tố kỹ thuật, thay vì chịu ảnh hưởng từ các động thái kinh tế.

Cụ thể, tại Mỹ, lực cầu bắt đáy những cổ phiếu rớt giá thảm hại trong các phiên trước đã giúp khối lượng giao dịch bùng nổ với hơn 13 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên toàn thị trường, đồng thời nâng các chỉ số chính hồi phục mạnh. Trong đó, Dow Jones tăng 1,44%, lên 10.808,71 điểm. Chỉ số S&P tăng 2,25%, lên 1.123,95 điểm và Nasdaq Composite tiến 2,95%, lên 2.404,82 điểm.

Trong khi đó, động thái hạ bậc tín nhiệm Italy của Moody's lại là một hành động thực tế và dự kiến sẽ phản ánh trực tiếp lên giá trị giao dịch của các thị trường hàng hóa. Đây là lần đầu tiên trong gần hai thập kỷ qua, tổ chức định mức tín nhiệm này hạ bậc tín dụng của Italy, do lo ngại chính phủ nước này sẽ phải vật lộn để cắt giảm khoản nợ công lớn thứ hai tại Khu vực đồng Euro.

Cụ thể, Moody's hạ 3 bậc xếp hạng tín nhiệm của Italy từ Aa2 xuống A2 với triển vọng tiêu cực. Trước đó, hôm 20/9, Standard & Poor's (S&P) cũng hạ xếp hạng tín nhiệm của Italy lần đầu tiên trong 5 năm.

Tháng trước, Italy phê chuẩn kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách trị giá 54 tỷ Euro nhằm cân bằng hoạt động chi tiêu tài chính năm 2013, từ đó thuyết phục Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) mua trái phiếu nước này. Việc mua trái phiếu đã giúp giảm lợi suất khoảng 1% nhưng chi phí vay mượn của Italy vẫn đứng gần các mức cao kỷ lục vì ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực.

Chính bởi "tâm lý mong manh của thị trường cho thấy chi phí tài trợ vốn và rủi ro trong việc cấp vốn cho Italy sẽ gia tăng đáng kể. Dù các chính sách trong thời gian tới của Khu vực đồng Euro có thể làm giảm mối quan ngại của nhà đầu tư và bình ổn thị trường cấp vốn nhưng điều ngược lại cũng có thể xảy ra", tổ chức định mức tín nhiệm Moody's cho biết trong thông báo.

Một thông tin khác cũng đang khiến giới đầu tư bất an là hoạt động sản xuất toàn cầu trong tháng 9 vừa qua đã sụt giảm lần đầu tiên kể từ năm 2009, làm gia tăng mối lo ngại về một cuộc suy thoái kinh tế khác bất chấp sự hồi phục vừa phải ở Mỹ. Cụ thể, chỉ số quản lý sức mua (PMI) do JPMorgan cùng với các tổ chức nghiên cứu khác tập hợp, đã giảm xuống 49,9 điểm so với 50,2 điểm của tháng 8.

Lần đầu tiên kể từ tháng 6 năm 2009, chỉ số này giảm xuống dưới ngưỡng 50, dấu hiệu mà nhà phân tích David Hensley thuộc JPMorgan cho rằng "chỉ ra sự tăng trưởng yếu hoặc khả năng sụt giảm về sản lượng công nghiệp trong vài tháng tới". Ngoài ra, sự tăng trưởng không đồng nhất ở châu Âu, châu Á và một số nền kinh tế lớn khác đã dấy lên những nghi ngờ về sự hồi phục kinh tế bền vững.

Ở châu Âu và châu Á, hoạt động tại các nhà máy đã giảm xuống những mức thấp kỷ lục kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008 do nhu cầu xuất khẩu suy yếu. Chỉ số PMI của Markit, đánh giá sự thay đổi trong hoạt động của hàng nghìn nhà máy ở Khu vực đồng Euro cũng đã giảm xuống 48,5 trong tháng 9 từ mức 49,0 của tháng 8. Đây là tháng thứ hai liên tiếp PMI của khu vực này dưới ngưỡng 50.

Những bằng chứng gia tăng về sự suy yếu kinh tế Khu vực đồng Euro đã khiến một số nhà phân tích dự đoán rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ cắt giảm lãi suất vào cuộc họp hôm 6/10 tới. Trong khi ở châu Á, số đơn hàng xuất khẩu giảm kể từ giữa mùa hè do cuộc khủng hoảng ở Eurozone và sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế Mỹ.

Tuy nhiên, Viện Quản lý Nguồn cung của Mỹ cho biết chỉ số hoạt động của các nhà máy trên toàn quốc được Viện này thu thập lại tăng nhẹ từ mức 50,6 của tháng 8 lên 51,6 trong tháng 9, trong khi PMI của Canada tăng từ 54,9 lên 55,05. Hoạt động chế tạo của Trung Quốc cũng tăng do các doanh nghiệp chuẩn bị cho đợt nghỉ Quốc khánh, nhưng thấp hơn mức tăng trung bình.

Một yếu tố khác cũng tác động không ít tới trạng thái tâm lý của giới đầu cơ hàng hóa là việc Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) tuyên bố rằng, khủng hoảng kinh tế đã làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) châu Âu khó vay vốn ngân hàng. Trong giai đoạn 2007 - 2010, tỷ lệ yêu cầu vay vốn tín dụng của các SME bị từ chối đã gia tăng ở 19/20 nước thành viên có các chỉ số được theo dõi.

Theo số liệu được công bố, tỷ lệ các khoản vay tín dụng bị từ chối tăng mạnh nhất tại Bulgari (từ 3% vào năm 2007 lên 36% vào năm 2010), tiếp đến là Ireland (từ 1% lên 27%) và Latvia (từ 4% lên 26%). Duy nhất chỉ có Thụy Điển, tỷ lệ này giảm, từ 9% xuống còn 6%. Tuy nhiên, trong 2010 tỷ lệ các SME được cho vay toàn bộ giảm nhưng vay từng phần lại tăng ở tất cả các nước thành viên.

Theo VnEconomy

Vàng tụt sát 44 triệu, ngân hàng tăng tỷ giá

Posted: 04 Oct 2011 07:53 PM PDT

(VEF.VN) - Giá vàng trong nước đã đảo chiều khi giá thế giới giảm mạnh trong phiên giao dịch hôm qua (5/10). Giá giảm mạnh lại thúc đẩy người dân đổ xô đi mua từ sáng sớm.

Sáng 5/10, giá vàng SJC đã chỉ còn 44,25-44,55 triệu đồng/lượng. So với giá chiều qua, giá vàng đã giảm tới hơn 700.000 đồng. Trong khi đó, giá vàng thế giới cập nhật chỉ còn 1.619 USD/ounce, giảm mạnh so với giá ngày hôm qua hơn 50 USD.

Giá Bảo Tín Minh Châu là 44,3 - 44,70 triệu đồng/lượng, giảm hơn 800.000 đồng so với mức 45-45,4 triệu của chiều qua. Vàng Doji có giá 44,2 - 44,6 triệu đồng/lượng.

Tại thời điểm 9h sáng là 1.621 USD/ounce, quy đổi ra VND là 40,8 triệu đồng/lượng. Khoảng cách vàng trong nước và thế giới lại được tăng lên gần 4 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trên thế giới phiên giao dịch tối qua đã sụt mạnh, dưới mức 1.600 USD, mất tới 57 USD trong giờ giao dịch chính thức.

Nhiều người dân đến mua bán vàng từ sáng sớm (ảnh Phạm Hải)

Trong ngày 4/10, giá vàng đã được hưởng lợi khi tăng mạnh lên 1.670 USD trước bất ổn trên nhưng nhanh chóng mất điểm bởi đồng đô-la vẫn mạnh. Diễn biến đồng đô-la tiếp tục tăng cao và đã đạt tới mức cao nhất của hơn 7 tháng trở lại đây.

Giá vàng đột ngột giảm sau khi lên cao vào chiều qua đã khiến nhiều người dân đến mua bán vàng từ sáng sớm. Những ngày qua, giá vàng đã trồi sụt liên tục nhưng đều xuống sát ngưỡng 44 triệu rồi lại tăng lên. Vì thế, nhiều người vẫn cho rằng, cơ hội mua vàng giá rẻ còn rất ít. Rất có thể, giá vàng sẽ lại tăng. Hơn nữa, sự liên xuống mạnh và liên tục cũng đã kích thích giới đầu cơ, lướt sóng đầu tư.

Tỷ giá liên ngân hàng sáng 5/10 đã được Ngân hàng Nhà nước nâng 10 đồng, lên mức 20.638 đồng/USD sau 34 phiên được giữ không đổi - chuỗi ngày không đổi dài nhất của tỷ giá liên ngân hàng kể từ khi điều chỉnh tỷ giá vào ngày 11/2. Trong khi tỷ giá thương mại vẫn là 20.840 - 20.844.

Giá USD trên thị trường tự do đã vượt lên 21.480-21.550 đồng/USD, tăng tiếp 130 đồng so với sáng qua. Mức chênh lệch giữa USD trong và ngoài hệ thống ngân hàng đã lên đến 700 đồng. Như vậy, tỷ giá đã giữ mức tăng liên tục trong một tuần gần đây và tốc độ tăng đang nhanh hơn.

iPhone 4S vẫn sẽ có nhiều fan cuồng?

Posted: 04 Oct 2011 07:34 PM PDT

"Dù Tim Cook chỉ đưa ra được những thay đổi mang tính thẩm mĩ với iPhone thế hệ mới, tôi vẫn sẵn sàng bỏ ra 299 USD để mua vào ngày ra mắt. Tôi chắc rằng những kẻ hâm mộ cuồng nhiệt sản phẩm của Apple cũng sẽ hành động giống mình. Đơn giản bởi Apple là hãng duy nhất cung cấp một chiếc điện thoại "đặc biệt" trên thị trường".

Bài viết của Maxwell Wessel, thành viên Diễn đàn Phát triển và Đổi mới, Trường Kinh doanh Harvard, nhóm chuyên phát triển và tinh chỉnh lý thuyết về sáng tạo đột phát lý giải về sức hút của thương hiệu iPhone và những lý do khiến người dùng vẫn sẽ háo hức đón chào iPhone thế hệ mới bất chấp phiên bản này có thực sự đột phá hay không.

Bài viết được xuất bản trước khi iPhone thế hệ mới được công bố, tác giả vẫn kỳ vọng iPhone thế hệ mới sẽ là iPhone 5. 

Để hiểu về văn hóa cuồng nhiệt đối với sản phẩm của Apple. chúng ta cần xem lại hai đóng góp quan trọng trong marketing. Đầu tiên, tháng 1/1980, Ted Levitt thuộc đại học Havard đã cho xuất bản một bài báo có tiêu đề "Tiếp thị thành công thông qua sự khác biệt".

Trong bài viết của mình, Levitt lập luận rằng các sản phẩm luôn có vẻ phức tạp hơn đối với người tiêu dùng so với những gì nhà sản xuất suy nghĩ. Ông chỉ ra rằng chất lượng sản phẩm cơ bản (chẳng hạn, với điện thoại thì phải gọi được), tạo ra sản phẩm ra thị trường. Nhưng ngoài những tính năng chung, người tiêu dùng còn kỳ vọng hơn vào những tính năng bổ sung. Levitt nhấn mạnh rằng các công ty có thể tạo sự khác biệt thông qua việc cung cấp hàng loạt các tinh năng mà người tiêu dùng mong đợi (chẳng hạn như các điều khoản, dịch vụ cung cấp tuyệt vời,...).

Thật không may, những tính năng được mong đợi thường đại trà và dễ dàng sao chép, vì thế nó không tạo ra những ưu thế bền vững. Levitt cho rằng nếu muốn tạo ra sự khác biệt để đạt tới thành công thì cần phải cung cấp những tính năng bất ngờ, những tính năng mà người tiêu dùng không nghĩ rằng họ cần tới, nhưng sau khi tung ra lại trở nên vô giá.

Khi một công ty thành công với những tính năng bất ngờ, sản phẩm của họ có thể đạt được vị trí rất cao trong lòng khách hàng.

Nhiều thập kỷ sau, Clayton Christensen và Michael Raynor đã mở rộng khái niệm của Levitt thông qua việc bổ sung các yếu tố tăng cường. Họ cho rằng tất cả những sản phẩm tác động đến người tiêu dùng không chỉ thông qua đặc tính chức năng, mà còn cả những đặc điểm xã hội và cảm xúc. Họ hỗ trợ cho lý thuyết của mình thông qua những ví dụ điển hình như Louis Vuitton, một thương hiệu hình thành xung quanh trạng thái cảm xúc, và Curves, một phòng tập thể dục đạt tới thành công khi đưa ra một bài tập thể dục giảm cân được cả xã hội sử dụng.

Họ cho rằng các công ty thành công luôn hiểu khi nào đặc điểm xã hội và cảm xúc đóng vai trò quan trọng nhất, và tăng cường những yếu tố này vào sản phẩm của mình sao cho phù hợp.

Tìm ra cách thức để cải tiến sản phẩm của mình luôn là vấn đề của các nhà sản xuất điện thoại di động. Điện thoại ngày nay quá phổ biến. Trên nhiều khía cạnh, nó là sản phẩm xuất hiện thường xuyên nhất và trở thành biểu tượng đặc trưng của người sử dụng. Ngoài điện thoại, có thứ gì luôn đi cùng với bạn mọi lúc mọi nơi? Tuy nhiên, trong vòng một thập kỷ qua, chỉ có Apple là hãng sản xuất điện thoại suy nghĩ để tìm cách thống nhất giữa hai yếu tố cảm xúc và xã hội.

Các nhà sản xuất Android đã quá chú trọng vào cuộc chiến về tính năng, như tăng cường kích cỡ màn hình, chất lượng bàn phím, làm càng mỏng càng tốt, camera độ phân giải cao, tăng khả năng của chip xử lý, và nhiều vấn đề khác. Và các nhà cung cấp liên tục đưa ra các thế hệ điện thoại mới, khiến ta có cảm giác các thiết bị Android thay đổi liên tục chỉ sau vài tuần.

Điều này khiến các nhà sản xuất đều có cùng một kiểu cạnh tranh và kết quả là trên thị trường xuất hiện quá nhiều sản phẩm để lựa chọn và quá khó để người tiêu dùng có thể nhớ điện thoại nào có tính năng nào. Và nếu mọi người không thể biết được điện thoại nào với điện thoại nào, nó sẽ không thể hiện được bản sắc của người sử dụng.

Và lúc đó, chỉ có một biểu tượng phản ánh đậm nét bản sắc cá nhân cùng với việc sở hữu những tính năng được mong đợi: iPhone .

Dù ra mắt rầm rộ nhưng đem lại không ít thất vọng cho người hâm mộ, iPhone 5 sẽ vẫn có nhiều fan cuồng?

Ngay từ khi bắt đầu cuộc chay đua trong thị trường điện thoại di động, Apple đã không chọn tham gia vào cuộc chiến đọ tính năng của sản phẩm. Apple đã cố tính loại bỏ khả năng tương thích 3G của iPhone đời đầu cho dù tính năng này lúc đó đã là một chuẩn của ngành công nghiệp. Nó chỉ cung cấp tính năng đa nhiệm trong những phiên bản gần đây, chậm gần 2 năm so với Android. Thay vì cung cấp tất cả các tính năng mà người tiêu dùng mong đợi, Apple đã tạo ra một thiết bị duy nhất với một kiểu thiết kể chuẩn, tung ra các phiên bản mới mỗi năm một lần, giữ bí mật các tính năng được bổ sung, và bán ra với một cái giá khá cao.

Nhưng điều kỳ lạ lại xảy ra. Một nền văn hóa được hình thành thông qua sản phẩm này của Apple. Những blog bàn luận sôi nổi xem liệu Steve Jobs sẽ thêm vào tính năng gì trong phiên bản iPhone tiếp theo. Mọi người bắt đầu nghĩ xem mình thích iPhone trắng hay màu đen truyền thống. Và họ cũng tìm cách có được phiên bản mới càng sớm càng tốt thành một chủ đề được nhiều người quan tâm. Liệu bạn sẽ xin nghỉ một ngày để xếp hàng trước của hàng của Apple, hay bạn sẽ đặt hàng trực tuyến và chấp nhận nhìn bạn bè sở hữu những chiếc iPhone mới sớm hơn mình?

Bằng việc cung cấp cho khách hàng cùng một sản phẩm, Apple đã thực sự phát triển một sản phẩm mang tính xã hội cao trong thị trường. Và bằng cách buộc mọi người phải chờ đợi phiên bản mới trong háo hức, Apple đã tạo nên một sự cộng hưởng về cảm xúc to lớn hơn bất kỳ một sản phẩm nào khác. Nhờ vậy, Apple đã có bước tiến nhảy vọt và vượt mặt tất cả các đối thủ cạnh tranh, đồng thơi thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ.

Gần đây, có rất nhiều những kẻ "hâm mộ cuồng nhiệt" với Apple. Sự thành công của Apple đã được dự đoán trước. Đó là kết quả của việc phát triển tập trung cho một sản phẩm hoàn chỉnh. Điều này cũng giống như mọi người đều biết tới Southwest Airlines cung cấp dịch vụ hàng không, IKEA cung cấp đồ nội thất, hay Harley Davidson thì bán xe máy. Và doanh nghiệp của bạn cũng có thể làm được điều đó, bằng việc xem xét cẩn thận những tính năng chung, tính năng được và không được mong đợi trong sản phẩm của mình.

Còn tôi sẽ mua iPhone 5 bất kể những tính năng nó có. Tại sao? Bởi sản phẩm mang thương hiệu của Apple có sức nặng hơn bất cứ một tính năng mới nào. Công ty này đã cung cấp một tính năng quan trọng nhất: đó là sự hòa trộn giữa những đặc điểm xã hội và xúc cảm trong cùng một chiếc điện thoại.

Cảnh giác với phần chìm của nợ công

Posted: 04 Oct 2011 04:00 PM PDT

(VEF.VN) - Với Việt Nam, những khoản nợ công được công bố vẫn ở trong tình trạng cho phép. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi của tảng băng. Để kiểm soát tốt nợ nần, vấn đề là phải lượng hoá được cả phần chìm đó. Nếu không sẽ rơi vào một cái bẫy: Bẫy nợ công. Hy Lạp là một bài học không nên bỏ qua.

Nợ công đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ ở các nước mà còn là vấn đề của Việt Nam. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài chưa có điểm dừng, trong đó có nguyên nhân quan trọng là một số nước EU đang ngập sâu vào thâm thủng ngân sách. Nợ công thực sự là cái bẫy khiến chính phủ các nước này không thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng.

Với Việt Nam, lạm phát, thâm hụt ngân sách và nợ công đang là vấn đề hiện hữu. Nếu không tỉnh táo, chuyện "sập bẫy" sẽ là khó tránh. Chúng ta hãy nhìn nhận các yếu tố nợ công dựa trên những gì đã và đang diễn ra ở các nước và ngay trong nội bộ nền kinh tế Việt Nam.

Trong mấy năm lại đây, bội chi ngân sách ở Việt Nam đã là chuyện thường niên. Số liệu của Bộ Tài chính công bố trong báo cáo "Tổng kết ngành năm 2010" cho thấy, bội chi NSNN năm 2010 bằng 5,8% GDP. Trước Quốc hội, ngày 10/11/1010, Chính phủ đề nghị bội chi ngân sách Nhà nước năm 2011 là 5,5% GDP, mức bội chi không quá 120.600 tỷ đồng.

Cùng với chuyện thâm thủng ngân sách, chuyện nợ công của Chính phủ cũng không ngừng tăng cao. Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỷ USD thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD, tương đương với khoảng 55% GDP. Điều đáng nói hơn là, trong giai đoạn này nợ Chính phủ đang có xu hướng tăng đều, trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP.

Với Việt Nam, lạm phát, thâm hụt ngân sách và nợ công đang là vấn đề hiện hữu.

Thêm vào đó, với Việt Nam, nợ công không thuần tuý là nợ Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ chiếm tỷ trọng không đáng kể.

Với VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong rổ nợ công. Năm 2005, Chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu ra thị trường chứng khoán New York và dùng toàn bộ số vốn này đầu tư cho các dự án của Vinashin. Hiện tại, Vinashin thua lỗ, khó có khả năng thanh toán số nợ trên thì Chính phủ phải đứng ra trả nợ thay.

Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, đầu tư ước tính của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2010 là 350.000 tỉ đồng, tương đương với 17 tỷ USD (17% GDP). Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là lớn hơn con số đó rất nhiều, trong đó một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay.

Điều này cho thấy, nợ công ở Việt Nam nếu tính đúng, tính đủ cả số nợ của các DNNN thì không như những con số được thông báo mà con số thực là lớn hơn rất nhiều. Đành rằng, là nước đang phát triển, ai chả phải vay mượn, ai chả phải nợ nần. Có ai muốn trở nên giàu có thịnh vượng mà không phải vay mượn, không phải nợ nần đâu!

Điều đáng nói là, khi đã đi vay thì phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả, phải sinh lợi, như thế mới có khả năng thanh toán cả vốn lẫn lãi. Nếu sử dụng đồng vốn kém, chi tiêu thâm thủng thì việc trả vốn còn khó nói chi đến việc trả lãi. Đó là bài học rút ra từ một số nước ngập sâu vào nợ nần như Hy Lạp, Italia...

Để đo mức độ hiệu quả của sử dụng vốn, thế giới thường dùng chỉ số sử dụng vốn ICOR (Incremental Capital - Output Rate). Với Việt Nam cho thấy, năm 2007 chỉ số này là 5,2; năm 2008 tăng lên 6,66 và năm 2009 tăng lên trên 8. ICOR của VN là 8 có nghĩa để tạo ra 1 đồng GDP gia tăng chúng ta phải đầu tư 8 đồng. Với Thái Lan, con số này của năm 2010 là 5.

Đấu thầu và xây dựng cơ bản được coi là những đĩa mật hấp dẫn đàn ruồi tham nhũng.

Đã có nhiều diễn đàn tổ chức hội thảo, mổ xẻ nguyên nhân của sự kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư, trong đó quanh đi quẩn lại vẫn là: Cơ cấu đầu tư không hợp lý, manh mún, quá trình đầu tư bị thất thoát, lãng phí, chất lượng công trình đầu tư kém.

Nhiều năm qua, người ta đã nói nhiều đến chuyện manh mún, dàn trải, đặc biệt là các hạng mục cơ sở hạ tầng. Tỉnh nào cũng xây dựng cảng biển, tỉnh nào cũng đệ trình kế hoạch làm sân bay, tỉnh nào cũng làm đặc khu kinh tế... Không chỉ có thế, với các hạng mục này, doanh nghiệp tư nhân xin đảm nhiệm, các doanh nghiệp nước ngoài xin đấu thầu, các doanh nghiệp nhà nước cũng nhào vô. Đầu tư thực sự là... đĩa mật thơm phức.

Kết quả của chiến dịch trăm hoa đua nở là, với các tỉnh ven biển, tỉnh nào cũng có cảng, tỉnh nào cũng có khu công nghiệp. Có lần, đi qua một tỉnh miền Trung, nghe đồn rằng đây mới hoàn thành cầu cảng nước sâu có thể đón tàu trọng tải 10 vạn tấn cập bến, năng lực hàng hoá thông qua có thể đạt tới 5 triệu tấn năm, cùng với đó là khu công nghiệp rộng tới cả ngàn ha, không khỏi tò mò đành cho xe chạy vào xem thực hư.

Trong suốt chiều dài hơn chục cây số từ quốc lộ I xuống cảng, dân cư đã được di dời, mặt bằng đã được dọn dẹp, hạ tầng khu công nghiệp đã được hình thành. Trên hàng trăm héc ta đất rộng mênh mông, ngổn ngang sỏi đá chỉ có nhà điều hành của ban quản lý khu công nghiệp và một vài hạng mục đang được xây dựng lơ thơ. Chạy xuống cảng, cảnh sắc còn đìu hiu hơn. Trên cầu, chỉ có mỗi con tàu dăm ngàn tấn, nghe nói vừa ghé cảng để tiếp nước ngọt.

Khỏi cần tính toán cũng có thể thấy rằng, một nguồn lực rất lớn, không chỉ có tiền bạc mà còn là đất đai, con người đang bị lãng phí. Những nguồn lực đó đang phải chịu ghánh nặng là nợ nần phát sinh lãi hàng ngày. TS. Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, đặt câu hỏi: Khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh?

Lý giải vì sao có hiện tượng đó, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, TS Trần Đinh Thiên, cho rằng: Chúng ta đang trao quyền tự chủ cho các địa phương nhưng quyền đó không tương thích với năng lực quản lý. Tỉnh nào cũng muốn thu hút đầu tư, cũng muốn dòng vốn chảy về tỉnh mình, cũng trải thảm đỏ. Trong khi đó trình độ quản lý vĩ mô hạn chế, lại bị chi phối nặng nề bởi cơ chế xin cho.

Ông Võ Hồng Phúc, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong một lần trao đổi với báo chí, nhìn nhận, với nguồn lực hạn chế nhưng lượng đầu tư quá dàn trải, thiếu tính toán nên dẫn đến hậu quả là lãng phí vốn đầu tư, làm giảm hiệu quả đầu tư và thậm chí không còn đạt hiệu quả đầu tư như mục tiêu đặt ra.

Chuyện đổ bể của Vinashin ngoài một vài lý do khác, có nguyên nhân sâu xa từ cách thức đầu tư đó. Khi một thành phần kinh tế đầu tư không hiệu quả kéo dài trong nhiều năm mà còn được ưu ái nhận thêm hỗ trợ, tất yếu bệnh suy thoái càng thêm trầm trọng. Chuyện giá cả tăng vọt, đời sống của người làm công ăn lương bị sa sút từng ngày mà chúng ta không nhìn thẳng vào sự thật là điều khó có thể thoát khỏi thực trạng suy thoái trong một tương lai gần.

Ngẫm lại bài học Hy Lạp. Nước này gia nhập Cộng đồng châu Âu (EU) năm 1981 và tham gia khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro tháng 1/2001. Sự nôn nóng và tham vọng muốn được sánh vai cùng các quốc gia giàu mạnh khác, cùng với việc được đăng cai Thế vận hội Athens năm 2004 khiến nước này đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản. Đấu thầu và xây dựng cơ bản được coi là những đĩa mật hấp dẫn đàn ruồi tham nhũng. Và Hy Lạp cũng không là ngoại lệ.

Đầu tư xây dựng quá mạnh khi khi thực lực kinh tế chưa đủ mạnh khiến nước này phải vay mượn. Đó là khởi đầu để đẩy Hy Lạp chìm đắm trong những khoản nợ kếch xù. Giờ đây, quốc gia này vẫn đang "loay hoay" tìm lối thoát cho mình với sự giám sát ngặt nghèo của IMF.

Với Việt Nam, những khoản nợ công được công bố vẫn ở trong tình trạng cho phép. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi của tảng băng. Để kiểm soát tốt nợ nần, vấn đề là phải lượng hoá được cả phần chìm đó. Nếu không sẽ rơi vào một cái bẫy: Bẫy nợ công. Hy Lạp là một bài học không nên bỏ qua.

Năm 2012, nhiều doanh nghiệp thép sẽ phá sản

Posted: 04 Oct 2011 04:00 PM PDT

(VEF.VN) - Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, sang năm 2012 sẽ có nhiều DN thép phá sản. Những doanh nghiệp ngốn nhiều năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, chất lượng sản phẩm không tốt sẽ phải đóng cửa.

Đây chính là hậu quả của việc bất chấp cảnh báo, một loạt dự án thép công suất nhỏ, dây chuyền lạc hậu đã được triển khai xây dựng tại các địa phương trong thời gian qua.

Lỗ nặng

Ông Đinh Huy Tam, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép cho biết, tăng trưởng tiêu thụ thép 9 tháng đầu năm 2011 ở mức âm và dự báo cả năm 2011 sẽ tăng trưởng âm. Năm 2012, tăng trưởng  thép chỉ ở mức 4%, thấp hơn  nhiều so với các năm trước đây, vì vậy sẽ đẩy nhiều DN  lâm vào cảnh khó khăn, các vấn đề yếu kém của các DN thép sẽ bộc lộ.

Điều mà Hiệp hội Thép dự báo trên thực tế đã diễn ra sớm hơn. Hiện nay, Công ty cổ phần Thép Vạn Lợi (Hải Phòng) đã phải ngừng sản xuất. Vạn Lợi hiện đang là con nợ của 6 tổ chức tín dụng, với nhiều món nợ xấu, giá trị lớn, bên cạnh đó Vạn Lợi cũng nợ cả tiền điện hơn 11 tỷ đồng và nợ Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng gần 7 tỷ đồng.

Công ty cổ phần Thép Đình Vũ ( Hải Phòng) liên tục lỗ trong mấy năm qua, có năm lỗ tới hàng trăm tỉ đồng, dù đã chuyển nhượng tới 70% cổ phần cho một tập đoàn đầu tư đến từ Úc, thì sản xuất hiện tại  vẫn chưa có dấu hiệu sáng sủa.

Công ty cổ phần Thép Cửu Long Vinashin chưa sản xuất được bao lâu đã lâm vào tình cảnh "đắp chiếu", hiện đang trong quá trình bán lại cho 1 DN khác. Cũng theo Hiệp hội Thép, hầu hết các DN thép hiện nay đang sản xuất cầm chừng, do tiêu thụ giảm mạnh. Nhiều DN chỉ hoạt động chừng 50% công suất mà hàng tồn kho vẫn cao.

Những khó khăn mà các DN thép đang gặp phải là chi phí vốn quá cao, giá các vật tư nhiên liệu đầu vào tăng ở mức hai con số, giá than, giá xăng dầu, giá điện đều tăng vài chục phần trăm. Kể từ đầu năm giá nguyên liệu đầu vào của ngành thép như quặng sắt, than cốc, phôi thép và thép phế tăng hơn năm 2010 từ 20 - 30%.

Ảnh minh họa

Trong khi đó, do tình hình lạm phát trong nước tăng cao, Chính phủ vẫn phải áp dụng nhiều biện pháp để kiềm chế, trong đó có việc thực hiện chính sách cắt giảm đầu tư công, tạm dừng, hoãn các công trình chưa thật cần thiết làm cho thị trường bất động sản năm 2011 đã thực sự rơi vào tình trạng đóng băng.

Điều này đã tác động, làm cho tiêu thụ thép giảm và lượng thép tồn kho tăng cao, hiện vào khoảng 500.000 tấn, trong khi bình quân lượng tồn kho ở mức cho phép khoảng một nửa số đó. Đây là số lượng thép tồn lớn hơn mức bình thường. Theo tính toán của Hiệp hội Thép, mức lãi mà các DN phải trả đối với lượng hàng tồn kho này gần 150 tỷ đồng/tháng.

Một lý do nữa khiến lượng thép tiêu thụ của các DN sụt giảm mạnh là tình trạng đầu tư tràn lan, không theo quy hoạch đã dẫn đến cung vượt cầu trong ngành thép.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, đến nay, cả nước có 65 dự án thép có công suất thiết kế từ 100.000 tấn/năm trở lên, trong đó có 58 dự án trong nước và 7 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư là 41.623 tỉ đồng và 19.878 triệu USD. Điều đáng nói là trong số các dự án kể trên, có tới 32 dự án không thuộc danh mục quy hoạch đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tập trung ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hải Dương...

Trong số này có hơn 20 dự án là địa phương cấp sai thẩm quyền, nghĩa là đáng lẽ trước khi cấp phép, địa phương cần phải xin ý kiến bộ chuyên ngành như Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường... và báo cáo Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Nhưng địa phương cứ làm theo nguyên tắc dự án nào dưới 1.500 tỉ đồng là tự quyết định mà không hỏi ý kiến Trung ương.

Tính đến nay có 30 tỉnh, thành trên cả nước có dự án sản xuất gang thép. Nếu so với nhu cầu trong quy hoạch ngành thép, dự kiến đến 2015, cả nước cần khoảng 15 triệu tấn thép và năm 2020 là 20 triệu tấn thép, thì tổng công suất thiết kế của các dự án lên tới 26 triệu tấn/năm, đấy là chưa kể dự án 5 triệu tấn của tập đoàn Tata (Ấn Độ) liên doanh với Tổng công ty Thép Việt Nam tại Hà tĩnh và dự án thép tấm cán nóng Bà Rịa - Vũng Tàu (Tông công ty Thép Việt Nam mua lại của Tập đoàn Essar) 2 triệu tấn/năm, nằm trong quy hoạch nhưng đang gặp khó khăn.

Thống kê cho thấy, có tới gần 30% doanh nghiệp ngành thép đang sử dụng công nghệ lạc hậu, khoảng hơn 40% doanh nghiệp sử dụng công nghệ ở mức trung bình, còn lại một số ít doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến. Khó khăn lớn hiện nay thuộc về những DN địa phương có công suất nhỏ, thiết bị lạc hậu, sản phẩm chất lượng kém và mới đi vào hoạt động. Những DN này đứng trước nguy cơ phá sản cao.

Theo khảo sát, đa phần các dự án sản xuất thép, phôi thép, gang... tại các địa phương đều có vốn đầu tư trên dưới 1.000 tỉ đồng. Phần lớn các dự án này đều sử dụng nguồn vốn vay rất lớn để xây dựng và vốn lưu động của các doanh nghiệp cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào vốn vay.

Tăng trưởng cao không còn đã khiến nhiều nhà máy phải ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, thép thành phẩm tồn kho lớn, lãi vay ngân hàng lớn, trong khi giá bán thấp hơn giá thành, đang đẩy nhiều DN thép đến bờ vực của sự phá sản. Chỉ tính riêng tại Hải Phòng, tổng số nợ cả ngắn hạn và dài hạn của các DN thép với các tổ chức tín dụng hiện khoảng trên dưới 4.000 tỉ đồng, trong đó, có rất nhiều nợ xấu. Đây chính là sự trả giá lớn cho sự đầu tư bừa bãi.

Đào thải nhà máy lạc hậu

Theo ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, khủng hoảng hiện nay khiến các DN thép lâm vào tình trạng khó khăn, nhưng đây cũng là cơ hội để sàng lọc, buộc ngành thép phải cấu trúc lại. Những DN không đủ khả năng phải bị loại ra khỏi ngành thép. Những nhà máy lạc hậu, quy mô nhỏ sẽ bị đào thải, hoặc các DN sẽ phải liên kết với nhau, tạo dựng thành những thương hiệu mạnh, chuyển hướng đầu tư sản xuất các chủng loại thép trong nước chưa sản xuất được.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thép dư thừa sang các nước trong khu vực và thế giới. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích xuất khẩu thép như giảm thuế VAT cho sản phẩm thép xuất khẩu, ưu đãi thuế xuất khẩu, hỗ trợ cho DN thép để có nhiều cơ hội tiếp cận với thị trường xuất khẩu thép thế giới (bằng các chương trình xúc tiến thương mại).

Việc đẩy mạnh xuất khẩu thép sẽ giúp cho ngành thép giải quyết lượng thép dư thừa, DN có thêm nguồn ngoại tệ để nhập nguyên liệu và sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được và giảm nhập siêu của Nhà nước. Trước đây, các DN chỉ có thể xuất thép sang Lào, Myanmar... nhưng nay đã có thể đưa vào các thị trường khó tính như Mỹ, Trung Đông, EU... Điều này chứng tỏ ngành thép có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới nếu có sự đầu tư đúng hướng cùng những chính sách tạo điều kiện phù hợp với cam kết gia nhập WTO.

Cùng với đó, việc chấn chỉnh quy hoạch ngành thép, đặc biệt là các dự án được các địa phương cấp phép. Kiên quyết thu hồi giấy phép các dự án không có trong quy hoạch và không thực hiện các thủ tục quy định đầu tư mà Chính phủ ban hành. Đặc biệt là các dự án sản xuất thép xây dựng, ống thép, thép cán nguội, thép mạ kim loại và tôn phủ màu do đã quá thừa trong ít nhất 5 năm tới. Tôn trọng các quy định mà Bộ Công Thương đã ban hành về quy mô công suất đầu tư và các điều kiện để dự án thép phát triển bền vững.

Khi chính sách bảo hộ chấm dứt đối với sản xuất thép vào năm 2017, cuộc cạnh tranh sẽ vô cùng khốc liệt. Việc của ngành thép là phải tự cứu mình bằng cách tập trung đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện công tác quản lý, chuyển hướng đầu tư bền vững, sản xuất sản phẩm có sự ổn định để phát huy năng lực của mình, phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập.

 

Thế giới tiêu tiền gì 20 năm tới?

Posted: 04 Oct 2011 04:00 PM PDT

Hiện nay hơn hai trăm loại tiền giấy được phát hành và lưu hành ở 193 quốc gia độc lập và vùng lãnh thổ. Thế nhưng liệu tiền giấy còn tồn tại và lưu hành trong bao lâu?

Chế độ bản vị vàng được lưu thông trong thời gian dài, sau đó tiền giấy ra đời đảm nhiệm chức năng lưu thông, trao đổi, dự trữ, thanh toán thay thế vàng, bạc. Hiện nay có hơn 200 loại tiền giấy được lưu hành ở 193 quốc gia độc lập và vùng lãnh thổ.

Lịch sử ghi chép, tiền giấy ra đời sớm nhất ở Trung Quốc vào đời Bắc Tống (năm 960 - 1127), khi đó chủ yếu là các tờ ngân phiếu viết tay. Tại châu Âu, tiền giấy ra đời vào năm 1661 do Ngân hàng Thụy Điển phát hành, khi đó cũng chỉ là những tờ ngân phiếu thay thế tiền vàng dễ lưu thông trong dân chúng. Phải tới năm 1694 khi Ngân hàng Anh (The Bank of England) được thành lập đồng thời cũng phát hành tiền giấy. Lúc đầu cũng là tờ ngân phiếu nhưng sau đó được thiết kế và in ấn chính thức lưu hành.

Năm 1792, khi Quốc hội Mỹ thông qua Luật tiền tệ, các loại tiền giấy USD được lưu hành. Năm 1913 khi Mỹ thành lập Cục Dữ trữ liên bang (FED) và FED được quyền phát hành tiền giấy,  thì tiền giấy được lưu hành thay thế đồng tiền vàng. Tới năm 1929 các loại tiền giấy USD được phát hành và lưu hành rộng rãi. Các kỹ thuật in ấn ngày càng hiện đại, nên tiền giấy được các nước in ra rất đẹp và kỹ thuật bảo vệ chống lại tiền giả cũng có hiệu lực cao. Australia là nước đầu tiên in tiền giấy bằng chất liệu nilon tổng hợp, so với chất liệu khác giữ lâu dài gấp 4 lần, sau khi thu hồi vẫn có thể tái sử dụng. Hiện nay, Nam Cực tuy chưa phải là một quốc gia độc lập, nhưng cũng phát hành tiền giấy "đô la Nam Cực", tuy chưa mang tính pháp định, nhưng có thể tiêu dùng ở một số  địa phương gần kề.

Để giảm bớt lượng lưu hành tiền giấy trên thị trường, nhiều nước hiện nay đã phát hành các loại "thẻ tín dụng" thay thế tiền giấy thanh toán khi tiêu dùng, nhưng đây cũng chỉ là biến tướng của tiền giấy.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sức mạnh kinh tế của Mỹ, đồng USD được chọn làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Nhưng khủng hoảng tiền tệ tín dụng thời gian qua ở Mỹ đã làm đồng USD bị mất giá và uy tín cũng như độ tin cậy không cao như trước đây.

Năm 1999,  đồng tiền chung châu Âu ra đời (đồng Euro) và hình thành Khu vực đồng Euro (Eurozone) cạnh tranh với đồng USD. Kể từ tháng 10/2000 tới nay, đồng EUR tăng giá 80% so với đồng USD (từ 1 EUR đổi 0,82 USD lên 1 EUR đổi 1,47 USD). Nhưng cùng với cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, đồng EUR đang bị giảm giá và Eurozone đang bị lung lay và đứng trước thách thức. Hai đồng tiền lớn đại diện cho hai thực thể kinh tế lớn thế giới bị suy yếu đã ảnh hưởng lớn hệ thống tiền tệ thế giới cũng như kinh tế thế giới.

Ngoài ra, nhiều nước đã lạm dụng việc in tiền để phát hành lượng tiền lớn hơn nhu cầu thực tế dẫn tới lạm phát. Bởi vậy, độ tin cậy của tiền giấy bị giảm sút mạnh mẽ. Tình trạng tiền giấy được in ra nhiều hơn so với nhu cầu đã làm lạm phát mang tính toàn cầu làm cho giá vàng, bạc tăng lên mạnh mẽ. Vì vậy, một số nhà kinh tế thế giới dự đoán rằng thế giới sẽ trở lại chế độ "Bản vị vàng" và sẽ phổ biến dùng tiền vàng.

Báo "Trung Đông" ngày 20/9 đăng bài của Giáo sư Qasim Yafeih, chuyên gia kinh tế của Saudi Arabia dự đoán rằng thế giới trong tương lai sẽ phổ biến tiêu tiền vàng, bạc. Ông Yafeih viết: "Có thể khẳng định rằng trong tương lai 10-20 năm tới đây tiền tệ thế giới sẽ là tiền vàng, bạc. Khi đó đồng tiền giấy USD, EUR và các đồng tiền giấy khác sẽ không còn giá trị như hiện nay".

Giáo sư Qasim Yafeih cho biết nhiều nước hiện nay đều lo ngại rằng khủng hoảng nợ công làm đồng USD và EUR mất giá, vì vậy các nước thời gian qua đang đổ xô săn lùng mua vàng về dự trữ, nhất là Trung Quốc. Dự đoán tới cuối năm 2011, giá vàng có thể vượt trần 2.000 USD/oz. Đầu tư vào vàng, bạc, đá quý sẽ tăng lên, nhất là từ nửa cuối năm 2011. Nửa đầu năm 2011 tiêu thụ vàng trên thế giới là 624 tấn, nửa cuối năm 2011 lên tới trên 1.000 tấn. Những đồng tiền giấy các nước sẽ mất giá theo và mọi người đều tìm tới vàng làm  cảng lánh nạn, bảo vệ tài sản của mình. Bởi vậy, chế độ bản vị vàng lại quay trở lại.

Theo tờ "Bắc Kinh buổi sáng" ngày 30/9,  trong bài tham luận đọc tại "Hội nghị các nhà kinh tế đoạt giải Nobel" tổ chức ở Trung Quốc cuối tháng 9/2011,  Giáo sư Robert Mundell - người đoạt giải thưởng Nobel kinh tế năm 1999 và hiện là giảng viên Trường Đại học Columbia (Mỹ) - chủ trương các nước trên thế giới nên thống nhất dùng loại tiền chung gọi là "Tiền toàn cầu".

Giá trị của một đơn vị  tiền tệ này được tính toán dựa trên cơ sở giá trung bình trên thị trường thế giới, như vậy sẽ loại trừ được tình trạng lạm phát, cũng như in tiền giấy bừa bãi hiện nay ở các nước. Ông nói: "Đây là chủ trương xem ra rất xa vời, nhưng là xu thế phát triển chung của tiền tệ thế giới. Nó là cơ sở để xây dựng hệ thống tiền tệ chung, một đồng tiền chung thế giới cho 195 quốc gia và vùng lãnh thổ". Tuy nhiên ông cũng cho rằng đồng tiền chung thế giới nên lấy đồng USD và EUR làm cơ sở, vì nền kinh tế Mỹ và EU chiếm tới trên 40% GDP thế giới.

Giáo sư John Forbes Nash, người được giải thưởng Nôben kinh tế năm 1994 cũng có một chủ trương tương tự. Ông nói: "Cuộc khủng hoảng tiền tệ thời gian qua khiến mọi người phải suy nghĩ về đồng tiền chung trong tương lai của thế giới". Ông cho rằng cần xây dựng một đồng tiền chung toàn cầu gọi là "Tiền lý tưởng".  Giá trị của một đơn vị đồng tiền này có thể dựa vào chỉ số giá cả tiêu dùng công nghiệp chung của thế giới để tính toán. Các tổ chức tiền tệ như IMF, Ngân hàng thanh toán quốc tế và Ngân hàng Châu Âu là cơ quan nòng cốt quản lý, giám sát đồng tiền này.

Giáo sư Paul de Grauwe, giảng viên Trường đại học Leuven (Lauven University), một trường đại học số 1 của Bỉ cho rằng thời gian tới, hệ thống tiền tệ thế giới sẽ hình thành thế chân vạc là đồng USD, đồng EUR và đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc. Thế giới sẽ tiêu ba loại tiền chính này.

Vậy thế giới tiêu tiền gì thời gian tới? Vàng, bạc, USD, EUR, CNY hay "Tiền toàn cầu", "Tiền lý tưởng"? Rõ ràng đây là vấn đề tranh cãi. Thực tế cho thấy tiền giấy ra đời có vai trò lịch sử lớn và đến nay vai trò lịch sử đó đang bị xói mòn, dẫn đến việc hình thành một loại tiền mới.

(Theo Tầm nhìn)

Học cách... không cạnh tranh

Posted: 04 Oct 2011 04:00 PM PDT

Hầu hết mọi người đều lớn lên trong một xã hội đầy cạnh tranh. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu chiến đấu để cạnh tranh không còn là chìa khóa quan trọng nhất để thành công trong thời đại ngày nay?

Hầu hết chúng ta đều lớn lên trong một xã hội đầy cạnh tranh.  Chúng ta cạnh tranh với anh em trong nhà để giành được sự quan tâm của bố mẹ. Chúng ta cạnh tranh với những đứa trẻ khác khi chơi thể thao. Chúng ta cạnh tranh với các bạn bè đồng trang lứa để được những điểm số cao nhất để có thể vào những trường đại học tốt nhất và sau đó là kiếm được công việc tốt nhất. Vì vậy mà khái niệm cạnh tranh cũng đi vào công sở, nơi chúng ta cố gắng thể hiện thật vượt trội đồng nghiệp để có được khoản tiền thưởng lớn hơn, thăng tiến nhanh hơn và nhiều cơ hội hơn nữa.

Nhưng chuyện gì xảy ra nếu chiến đấu để cạnh tranh không còn là chìa khóa quan trọng nhất để thành công? Làm sao chúng ta có thể xóa bỏ bản năng cạnh tranh hoặc chỉ sử dụng nó vào những thời điểm cần thiết? Và làm sao chúng ta biết rằng chúng ta đang đi đúng hướng nếu chúng ta không khẳng định bản thân mình bằng việc trở nên tốt hơn so với những người khác dựa trên sự so sánh tốt hơn so với những người xung quanh?

Trong bối cảnh ngày nay, những câu hỏi như vậy thực sự có tính thực tế hơn là có tính triết học.

Thế giới đang ngày càng trở nên kết nối đến nỗi rất nhiều quan điểm truyền thống về việc làm gì để thành công không còn được vận dụng. Cuộc tranh luận về vấn đề cạnh tranh kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ là một ví dụ. Trong thực tế, quốc gia này thì cần quốc gia khác để thành công và có thể phát triển thịnh vượng - giúp tài trợ tăng trưởng, đảm bảo cho thị trường xuất khẩu, đào tạo nhân tài, chuyển giao công nghệ, và hơn thế nữa. Chắc chắn tồn tại sự khác biệt rõ rệt về những giá trị và phương thức quản lý giữa các quốc gia, vì thế cạnh tranh đích thực là cạnh tranh tư tưởng và sức ảnh hưởng. Tuy nhiên, ở mức độ kinh tế, cạnh tranh còn mang một nét nghĩa khác hơn, thậm chí không rõ ràng.

chuyện gì xảy ra nếu chiến đấu để cạnh tranh không còn là chìa khóa quan trọng nhất để thành công trong thời đại ngày nay?
Điều tương tự cũng xảy ra trong nhiều ngành khác nơi mà phe đối lập đồng thời cũng là đối tác. Ví dụ, các công ty dược cấp giấy phép thuốc cho nhau và cùng tiếp thị sản phẩm trên các thị trường khác nhau. Những công ty cung cấp dịch vụ tài chính cùng hùn vốn cho các khoản vay và cùng chia sẻ rủi ro. Những đối thủ trong ngành sản xuất ô tô, máy vi tính, và may mặc luôn luôn dựa vào những nhà cung cấp và phân phối giống nhau, và vì vậy để cho bộ máy vận hành hiệu quả cần đảm bảo rằng toàn bộ ngành công nghiệp hoạt động tốt.  Những đối thủ có những điểm chung này cũng sẽ cùng nhau vận động hành lang để có được một môi trường chính trị, kinh doanh thuận lợi. Một lần nữa, điều này không có nghĩa là cạnh tranh bị mất đi, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút nhà đầu tư và khách hàng. Nhưng lúc này cạnh tranh không còn là phương tiện duy nhất để đạt được thành công.

Đặc biệt, bạn sẽ thấy sự sự mờ nhạt rõ rệt nhất của cạnh tranh giữa các công ty. Khi các tổ chức trở nên toàn cầu và phụ thuộc hơn vào quá trình phân công lao động thì hoạt động nhóm và sự cộng tác làm việc đang nhanh chóng trở thành thước đo của thành công. Các tổ chức không thể hoạt động hiệu quả nếu mọi người không chia sẻ thông tin, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề, và giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành công việc. Do đó, thay vì cạnh tranh với các đồng nghiệp ở những bộ phận khác, chúng ta nên thường xuyên cổ vũ động viện họ, và chủ động giúp đỡ họ phát triển một cách chuyên nghiệp.

Dù với sự hiểu biết thêm này thì công việc làm hạ nhiệt bộ máy cạnh tranh vẫn thật khó khăn với hầu hết chúng ta. Chúng ta được dạy dỗ từ nhỏ luôn hướng đến sự cạnh tranh nhiều đến mức thật khó để không học những bản năng này. Cách đây không lâu, tôi đã làm việc với một công ty sản xuất. Ở công ty này, những nhân viên ở bộ phận bán hàng bất đồng quan điểm với nhân viên những phòng tài chính, pháp chế, và quy trình sản xuất vì họ đang ngăn cản hoặc làm chậm những hợp đồng của công ty. Trái ngược hoàn toàn, những phòng chức năng lại nghĩ rằng những người bán hàng đang nằm ngoài kiểm soát vì họ không thể nắm bắt những thủ tục của công ty. Sự hoạt động bất thường nảy xảy ra do cả hai bộ phận cùng cạnh tranh đòi quyền kiểm soát thay vì giúp đỡ lẫn nhau để thành công. Nếu như bạn đang ở trong một tình huống mà cạnh tranh đang cản trở bạn đến với thành công, thì dưới đây là hai chiến lược có thể giúp ích:

Hãy đặt mình vào vị trí của đối phương. Bạn có thể làm được điều này tạm thời bằng cách bỏ đi sự cạnh tranh trong một hoặc hai ngày. Bạn có thể làm việc trong những lĩnh vực khác ở những dự án ngắn hạn, hoặc thậm chí có thể bắt đầu quá trình luân phiên thay đổi công việc chính thức. Điều quan trọng ở đây là khi bạn càng hiểu rõ một vấn đề trên phương diện của đối phương, bạn sẽ ít có xu thế cạnh tranh. Lấy Vanguard làm ví dụ, nó cố tình thay đổi luân phiên các giám đốc giữa các bộ phận như một cách để giảm cạnh tranh nội bộ. Như một giám đốc cấp cao của Vanguard đã nói với tôi, "nếu bạn đang ở trong các lĩnh vực khác và biết sẽ phải đảm nhiệm công việc mới khác, bạn sẽ không làm lơ với những vấn đề mà bạn sẽ giải quyết chúng ngay,"

Tạo cơ hội cho những cuộc trao đổi giữa các đối thủ. Chiến lược thứ hai này là để mang những nhóm đang cạnh tranh ngồi lại với nhau thảo luận về tình trạng đối kháng hiện tại và tìm ra các bước phát triển nhằm giúp cả hai bên cùng thành công hơn nữa. Trong một công ty sản xuất lớn, giám đốc nhà máy cảm thấy rất nhiều yêu cầu dữ liệu từ trụ sở chính là lãng phí thời gian, trong khi đó những phòng ban ở trụ sở lại nghĩ rằng những giám đốc đó đã không cung cấp dữ liệu chính xác, kịp thời. Khi những giám đốc phân xưởng và giám đốc điều hành ngồi lại lại với nhau, họ đã có thể xác định được cả tá báo cáo lẽ ra phải được bỏ bớt hoặc đơn giản hóa cho hiệu quả; cùng lúc đó cũng có thể xây dựng những cam kết chung về mức độ dịch vụ cho việc khi nào phải cung cấp dữ liệu và cung cấp như thế nào.

Đối với hầu hết chúng ta, cạnh tranh là bản năng, và trong nhiều trường hợp chúng ta được đào tạo để biến nó trở thành con đường mặc định dẫn đến thành công. Tuy nhiên, khi mà thế giới trở nên phức tạp hơn, thì việc học làm thế nào để không cạnh tranh có thể trở thành chìa khóa để thành công.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét