Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h


Nhiều ngành bị vạ lây từ bất động sản

Posted: 18 Aug 2011 04:18 PM PDT

"Thị trường BĐS phức tạp nhất và kém minh bạch nhất. Thị trường BĐS vẫn tiếp tục khó khăn. Vậy có nên cứu thị trường này không?" - nhận định này của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, được bàn luận sôi nổi tại hội thảo Tác động của thị trường BĐS lên thị trường tài chính Việt Nam, những khuyến nghị chính sách. Hội thảo này được Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Đại sứ quán Ailen tổ chức ngày 18-8. Những ý kiến góp ý tại hội thảo này sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian sớm nhất.

70% vốn đổ vào BĐS là vay ngân hàng

TS Nguyễn Xuân Nghĩa nhận định giá BĐS tăng nhanh hơn thu nhập của dân cư. Nhu cầu thì rất lớn nhưng giá cả thì luôn tăng mạnh, nguồn cung lại hạn chế. Biên độ giá thông thường như ở Trung Quốc, Thái Lan… chỉ tăng 15% trong một năm, trong khi ở VN là hàng 100%. Biến động giá phụ thuộc vào tin đồn, vào quy hoạch, hạ tầng… Người chịu rủi ro không ai khác là ngân hàng, nhà đầu tư và người tiêu dùng.

Hiện dư nợ tín dụng BĐS là khoảng 245.000 tỉ đồng, tương đương 10% tổng dư nợ. Con số này ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… là khoảng 6%. Tuy nhiên, theo ông Nghĩa, 10% vẫn chỉ là con số thống kê trên sổ sách, còn thực tế chắc chắn tiền đổ cho BĐS còn lớn hơn nhiều vì có nhiều khoản cho vay tiêu dùng cũng được đầu tư cho BĐS. Đáng lưu ý là một số ngân hàng nhỏ có dư nợ BĐS chiếm 30%-40% tổng dư nợ. Bên cạnh đó là các khoản cho vay nội bộ rất rủi ro. Ước tính chỉ trong sáu tháng đầu năm nay, nợ xấu BĐS tăng 37%, tương ứng 1.766 tỉ đồng so với cuối năm 2010.

Hiện có đến 70% vốn của thị trường BĐS là dựa vào ngân hàng nên rủi ro cho thị trường tài chính rất lớn.Trong ảnh: Giới thiệu một dự án nhà ở tại hội chợ Vietbuild 2011. Ảnh: HTD

Ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, cho hay hiện có đến 70% vốn của thị trường BĐS là dựa vào ngân hàng nên rủi ro cho thị trường tài chính hay nói cách khác là cho nền kinh tế là rất lớn. Thị trường BĐS là có thể nổ bất cứ lúc nào nếu như không kiểm soát, giám sát tốt nguồn vốn.

Rủi ro lớn cho ngân hàng

Theo ông Nam, thị trường BĐS VN hiện chưa vỡ mà mới chỉ có dấu hiệu bong bóng thôi. Tuy nhiên, nó đã để lại hậu quả khá nặng nề cho các ngành sản xuất liên quan. Như ngành xi măng, liên tiếp năm tháng qua sản lượng giảm mạnh. Nhiều dây chuyền gạch men đóng cửa còn công nhân thì làm ba ngày/tuần. Bản thân thị trường BĐS là đầu vào của nhiều ngành sản xuất nên Chính phủ cần có chính sách để tháo gỡ khó khăn cho thị trường này.

Có nên cứu thị trường BĐS hay không? Theo ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN, nếu nói cứu thì phải cứu cả thị trường chứng khoán, BĐS và ngân hàng. Tuy nhiên, cứu như thế nào là điều cần bàn.

"Từ nay đến cuối năm tín dụng BĐS vẫn tiếp tục bị thắt chặt, nên cứu thị trường BĐS hay là cứu các ông kinh doanh BĐS? Nhưng đứng trên quan điểm nền kinh tế quốc dân, không thể đáp ứng được vốn nhiều hơn cho ông nào kêu to hơn. Vì tiêu chí cần phải xem xét là trong bối cảnh hiện nay, thị trường BĐS hay thị trường chứng khoán phục vụ bao nhiêu người. Bài toán ở đây không thể trả lời có cứu thị trường BĐS không mà nền kinh tế này được xử lý như thế nào để thoát khỏi khủng hoảng?" - ông Thiên khuyến nghị.

Giá BĐS xuống 50% thì việc phát mại BĐS sẽ gây nguy cơ rủi ro gì đối với các ngân hàng? Ông Nghĩa cho hay, BĐS chiếm 50% tổng tài sản của các ngân hàng vì tài sản cho vay thế chấp hoặc cho vay trực tiếp đều có liên quan đến BĐS. Vì vậy, giá BĐS xuống gây rủi ro rất lớn cho ngân hàng. Tuy nhiên, ở VN chưa có dấu hiệu nào cho thấy nguy cơ lớn đối với cho vay BĐS ngoài các ngân hàng nhỏ cho vay BĐS cao. Điều này đã được Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước giám sát hoạt động cho vay của các ngân hàng nhỏ có tỉ lệ cho vay BĐS lớn.

Lúc này có nên cứu thị trường BĐS? Theo TS Nghĩa, muốn cứu cũng không cứu được vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế phục hồi đến đâu. Và ở VN nó còn phụ thuộc vào việc chúng ta kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; thu nhập của dân cư phải tăng cao, đồng thời khống chế lạm phát. Cùng với đó, ngân hàng có thể tăng cung tiền hoặc giảm lãi suất. Cho nên việc phục hồi thị trường BĐS phải chờ thời gian.

LÊ THANH

Cảnh giác với mủ cao su kém chất lượng

Posted: 18 Aug 2011 04:18 PM PDT

Qua theo dõi đã phát hiện một số thương lái đã mua chất bột trắng pha trộn vào mủ nước của cao su tiểu điền trước khi mang đến bán cho các nhà máy. Chất này có thể chống đông và làm tăng trọng lượng mủ nhưng lại làm giảm chất lượng cao su sau khi sơ chế. Điều đáng nói là DN không thể phát hiện khi nguyên liệu bị pha tạp chất.

Trước mắt, hiệp hội khuyến cáo DN cần kiểm tra chặt chẽ các nguồn nguyên liệu mủ cao su mua từ các thương lái. Ngoài ra DN phải dứt khoát từ chối mua những lô mủ có pha trộn tạp chất.

T.HIẾU

Ngân hàng lại huy động vàng trong dân

Posted: 18 Aug 2011 04:18 PM PDT

Như Ngân hàng Phương Đông có chương trình huy động vàng với tên gọi chứng chỉ vàng, lãi suất 1%/năm và không cho khách hàng rút vốn trước hạn. Một số ngân hàng khác thì cho phép các chi nhánh lớn được huy động vàng còn các phòng giao dịch thì không.

Việc ngân hàng huy động lại vàng cho thấy việc tích trữ vàng trong dân khá lớn. Dù về việc này NHNN đã có Thông tư 11 trong đó quy định từ ngày 1-5 cấm các ngân hàng không được cho vay vàng. Riêng việc phát hành chứng chỉ vàng để huy động thì chỉ được duy trì đến ngày 1-5-2012.

M.THẢO

Tìm vốn ở sàn Singapore

Posted: 18 Aug 2011 04:18 PM PDT

Chính vì vậy việc đưa cổ phiếu sang nước ngoài đối với DN hiện nay cũng đang là một hình thức huy động vốn tốt. Đó là nhận định của các chuyên gia tư vấn về chứng khoán tại hội thảo Những vấn đề thực tiễn mà các DN cần quan tâm trong việc huy động vốn ở Việt Nam và Singapore do Công ty Luật R&T Vietnam LLC và Công ty Chứng khoán Saigonbank Berjaya tổ chức ngày 18-8.

Đại diện một công ty tư vấn chứng khoán tại Singapore cho rằng: Cho dù đó là loại cổ phiếu, trái phiếu nào, khi muốn phát hành nước ngoài trước hết phải đáp ứng đầy đủ các quy định pháp lý trong nước đã. Sau đó phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Hoàn thành những điều kiện đó thì mới kể đến những điều kiện về pháp lý của nước mà chúng ta định đưa cổ phiếu sang.

Chỉ ra những kinh nghiệm để đưa cổ phiếu ra nước ngoài, các chuyên gia cho rằng trước hết DN phải chuẩn bị hồ sơ lý lịch và tài chính vững mạnh. Càng làm tốt khâu này bao nhiêu, càng thuận lợi cho DN bấy nhiêu. Trong đó, DN nên nêu ra những triển vọng, tương lai phát triển của mình ra sao. Hay đến hệ thống quản trị của mình có tốt hay không. Càng nhiều thông tin tốt càng thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế chúng ta cần phải lên kế hoạch ngay từ bây giờ. Thậm chí, chúng ta cũng cần xem nguồn vốn mình cần là bao nhiêu để biết mà hợp tác một cách thuận tiện nhất.

YÊN TRANG

Các hộ sản xuất nhỏ khó thực hiện theo VietGAP

Posted: 18 Aug 2011 04:18 PM PDT

Ngày 18-8, tại hội thảo về Luật An toàn thực phẩm, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp (CASRAD) và Tổ chức Phát triển nông nghiệp bền vững VECO Việt Nam cho biết như trên.

Theo CASRAD, hiện tiêu chuẩn VietGAP mới chỉ là tiêu chuẩn tự nguyện nên chưa nhận sự quan tâm nhiều từ nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng.

HC (Theo TTXVN)

Nước nào vẫn trụ vững xếp hạng tín dụng AAA?

Posted: 17 Aug 2011 04:00 PM PDT

Việc S&P hạ xếp hạng đánh giá tín dụng của Mỹ đã làm khuấy động thị trường và làm tăng nguy cơ về một thời kỳ suy thoái mới. Khả năng giữ vững vị trí vàng của nhiều nước đang có đánh giá tín nhiệm AAA yếu hơn nhiều so với 6 tháng trước đây.

Moody's vẫn công nhận xếp hạng tín dụng AAA cho chính phủ Mỹ, nhưng với một cái nhìn tiêu cực. Fitch cũng ghi nhận đánh giá AAA của họ đối với Mỹ, nhưng vẫn cảnh báo các khoản nợ của Mỹ tăng trên 100% GDP (sau 2012) là không xứng đáng nhận xếp hạng AAA.

Do nền kinh tế thế giới suy yếu và sự bất đồng của các cơ quan đánh giá, Tạp chí Wall Street đã quyết định đánh giá lại tất cả các quốc gia đang được xếp hạng tín nhiệm ba chữ A. Một số quốc gia có vẻ không xứng đáng nhưng vẫn được xếp hạng AAA. Và cũng có nhiều giả thiết cho rằng Hoa Kỳ không còn được đánh giá xếp hạng vàng ba chữ AAA là phù hợp với thực tế. Điều này cũng có nghĩa rằng các quốc gia khác có hoàn cảnh tương tự  Hoa Kỹ cũng có nguy cơ không còn giữ được xếp hạng AAA. Hiện tại có dưới 16 quốc gia thực sự xứng đáng được xếp hạng AAA.

Các số liệu mới cập nhật của Standard & Poor và Moody's cùng với số liệu thống kê sửa đổi của CIA World Factbook và thông tin từ Economist Intelligence Unit, Fitch, Egan Jones, và một số nơi khác cũng được xem xét kỹ. Bảng xếp hạng của Moody's cũng được sử dụng để đảm bảo tính nhất quán.

S&P vẫn đánh giá xếp hạng ba chữ A đối với các quốc gia Australia, Áo, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hà Lan, Na Uy, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, và Vương quốc Anh. Những quốc gia được xếp hạng ba chữ A khác như Guernsey, Isle of Man, Liechtenstein, và Luxembourg được loại trừ do diện tích nhỏ và phụ thuộc nhiều vào các quốc gia khác.

Một lưu ý là, Nhật Bản bị không được xếp hạng AAA vào cuối những năm 1990. Vào đầu năm nay, nó lại tiếp tục tụt hạng. Gần đây nhất là năm 2009, S&P đã tước xếp hạng AAA của Ireland. Ý và Tây Ban Nha đều được đánh giá xếp hạng AAA trong những năm 1990, nhưng Tây Ban Nha thực sự lấy lại được xếp hạng AAA trước khi lại tụt hạng một lần nữa vào năm 2009.

Việc S&P hạ xếp hạng đánh giá tín dụng của Mỹ đã làm khuấy động thị trường và làm tăng nguy cơ về một thời kỳ suy thoái mới.

Những nước dưới đây là những nước vẫn giữ được xếp hạng đánh giá tín dụng AAA ở mức an toàn:

1. Australia

GDP bình quân đầu người: 39.699,358 USD

Trong đầu năm nay, Australia vẫn giữ vững đánh giá AAA và không có gì thay đổi. Chắc chắn, nước này phải đối mặt với áp lực từ trận lũ hồi đầu năm nay.

Dân số của đất nước giàu tài nguyên này lại thấp, 21,5 triệu người, GDP năm 2010 của nước này khoảng 882,4 tỷ USD. Nguồn tài nguyên dự trữ lớn, chi phí lao động và tỷ lệ thất nghiệp thấp khiến Australia như một tấm lá chắn cho thế giới. Nợ công năm 2010 của nước này chỉ khoảng 22,4% GDP.

Australia được S&P xếp hạng đánh giá tín dụng AAA ổn định, và với Moody's nước này cũng được đánh giá tín dụng AAA, triển vọng và ổn định.

2. Canada

GDP bình quân đầu người: 39.057, 444 USD

Canada được đánh giá xếp hạng ba chữ A vững chắc, và quan hệ kinh doanh bền chặt với Mỹ cũng không gây nguy hiểm cho nước này. Canada có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và người dân nước này hầu như không phải chịu nổi lo bong bóng bất động sản và nợ công như Mỹ phải gánh chịu.

Dân số của Canada dưới 34 triệu người, GDP khoảng 1 330 tỷ USD, và công nợ cuối năm 2010 của nước này chỉ là 34% ​GDP dự kiến .

Cả Moody's và S&P đều không nhận thấy có bất kỳ vấn đề gì với đánh giá tín dụng AAA triển vọng bền vững của nước này. Canada có lẽ là quốc gia có xếp hạng ba chữ A an toàn nhất trong các nước nằm ở Tây bán cầu.

3. Đan Mạch

GDP bình quân đầu người: 36.449,554 USD

Đan Mạch là kinh tế tương đối mạnh với lực lượng lao động được đào tạo bài bản. Quốc gia này phụ thuộc phần lớn vào thương mại hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài.

Dân số của Đan Mạch chỉ khoảng trên 5,5 triệu người. GDP vào khoảng 201,7 tỷ USD. Thặng dư trong cán cân thanh toán đã giúp Đan Mạch rất nhiều trước khi chính phủ phải chi tiêu để điều khiển nền kinh tế. Giá bất động sản cao là mối quan tâm của nước này, đây cũng là hạn chế trong môi trường kinh doanh của Đan Mạch.

Quốc gia này sử dụng đồng Krone (Đan Mạch) mà không chính thức sử dụng đồng tiền chung Châu Âu. Tỷ lệ sinh thấp, dân số già, vấn đề thuế, xu hướng nhập cư và biến đổi khí hậu là những khó khăn dài hạn của đất nước nhỏ bé này. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của Đan Mạch dưới 5% và tổng nợ năm 2010 của nước này chỉ khoảng 46.6% GDP.

S&P và Moody's đều xếp hạng AAA- triển vọng và ổn định cho quốc gia này. Đan Mạch vẫn giữ vững xếp hạng này ngay cả khi ngành dịch vụ của nó gặp phải nhiều khó khăn khi giá bất động sản nước này tăng cao.

4. Đức

GDP bình quân đầu người: 36.033,284 USD

Đức vẫn đúng với cái tên người ta đặt cho nó "Vua của đồng Euro", đồng Deutsche Mark hiện tại đang bị đánh giá thấp.

Với dân số 81,4 triệu người và nền kinh tế đứng thứ 5 thế giới, nó không thể trốn tránh trách nhiệm là nước cứu trợ tài chính hàng đầu của châu Âu. GDP năm 2010 của Đức là 2 940 tỷ USD và có tỷ lệ thất nghiệp an toàn nhất trong các quốc gia châu Âu. Đức cũng có một lực lượng lao động với tay nghề cao. Những căng thẳng ngày càng gia tăng ở Đông Đức đã khiến các cơ quan đánh giá tín dụng phải tranh cãi về xếp hạng AAA của quốc gia này. Thâm hụt ngân sách, tiền trợ cấp, việc cắt giảm thuế, xu hướng dân số già, nhập cư và trách nhiệm đối với việc trợ cấp cho các nước Châu Âu thực sự là những gánh nặng của nước này.

Tuy nhiên, nợ công nước khoảng 78,8% GDP năm 2010 GDP vẫn là một tỉ lệ chấp nhận được. Những bất kỳ khoản chi tiêu gia tăng nào cũng có thể tăng rủi roc ho Đức trong dài hạn, theo chúng tôi, Đức sẽ giữ được xếp hạng ba chứ A lâu hơn hầu hết các nước khác.

5. Hà Lan

GDP bình quân đầu người: 40.764,548 USD

Hà Lan vẫn ở trong tình trạng tốt hơn rất nhiều nước châu Âu. Dân số của nước này là gần 16,8 triệu người và GDP vào khoảng 676,9 tỷ USD. Hà Lan có một lực lượng lao động bền vững, hiện tại nước này vẫn giữ mức thặng dư thương mại và sở hữu một nền công nghiệp khỏe mạnh khiến nước này hơn hẳn các quốc gia an hem trong khu vực EU.

Thâm hụt ngân sách của Hà Lan ở mức cao 4,6% GDP năm 2009 và 5,6% GDP năm 2010, theo dữ liệu của CIA đầu năm nay. Hiện nay, mức nợ công của nước này vào khoảng 64,6% GDP.

Các cơ quan xếp hạng không thấy có nguy cơ nào với đánh giá AAA của Hà Lan. Theo chúng tôi, xếp hạng ba chữ A của Hà Lan không gặp vấn đề nghiêm trọng cũng giống như con đê ngăn biển mà nước này vẫn đang duy trì tốt.

6. Na Uy

GDP bình quân đầu người: 52.012,506 USD

Na Uy là một trong những nước được đánh giá tốt nhất và trong một báo cáo trước đó Economist Intelligence Unit xem nó là hạng đánh giá AAA thực sự duy nhất.

Quốc gia này giàu tài nguyên nhưng dân số thấp chỉ khoảng 4,7 triệu người. GDP nước này khoảng 255,3 tỷ USD và phụ thuộc nhiều vào giá dầu, tỷ lệ thất nghiệp ở mức rất thấp. Nợ công vào khoảng 47,7% GDP. Na Uy cũng là nước có quỹ quốc gia 500 tỷ USD lớn thứ hai thế giới.

S&P và Moody's không có phàn nàn gì với xếp hạng tín dụng ba chữ A với quốc gia này.

7. Singapore

GDP bình quân đầu người:  56.521,731 USA

Singapore là quốc gia Đông Nam Á duy nhất được xếp hạng tín dụng AAA. Mặc dù nền kinh tế nước này phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu thương mại với nước ngoài, nhưng các nhà đầu tư Châu Á vẫn xem Singapore là nơi an toàn nhất hiện nay.

Dân số của quốc gia này khá ít, khoảng 4,74 triệu người và GDP vào khoảng 291,9 tỷ USD. Singapore không tránh được suy thoái kinh tế, nước này chứng minh được khả năng hồi phục nhanh của nó. Nợ công ở nước này đang ở mức cao 102, 4% GDO nhưng nó đang thắt chặt chi tiêu công để tăng Quỹ tiết kiệm trung ương. Hãy tưởng tượng tác dụng của biện pháp thắt lưng buộc bụng này của quốc gia này: Singapore không lần nào phải đi vay để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách từ những năm 1980.

S&P và Moody's không có nghi ngờ gì về xếp hạng tín dụng AAA và triển vọng của Singapore. Những mỗi nguy rõ ràng nhất của nước này là do những hành động quân sự, biến đổi khí hậu, hoặc những dư trấn địa chất chưa được biết rõ. Ngoài những điều trên thì xếp hạng tín dụng AAA của Singapore được coi là bền vững.

8. Thụy Điển

GDP bình quân đầu người: 38.031,484 USD

Thụy Điển là một trong những quốc gia lớn nhất bán đảo Scandinavia với dân số gần 9,1 triệu người. GDP của nước này là 354,7 tỷ USD. Nợ công năm 2010 của Thụy Điển là 40,8% GDP, thấp đáng kinh ngạc so với khu vực châu Âu cũng như bán đảo Scandinavia. Quốc gia này cũng không bị ảnh hưởng bởi Chiến tranh thế giới thứ II vì nó thuộc phe trung lập.

Tuy nhiên, Thụy Điển phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, do đó không tránh khỏi suy thoái kinh tế, và nước này đã cải cách một số chính sách tài chính để phục hồi kinh tế.

Nhập cư và xu hướng dân số già cũng là những trở ngại đối với nước này, nhưng các cơ quan xếp hạng thực sự không thấy có vấn đề gì đối với xếp hạng ba chữ A của Thụy Điển.

9. Thụy Sĩ

GDP bình quân đầu người: 41.663,047 USD

Thụy Sĩ là nước duy nhất vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển sau khủng hoảng nợ Châu Âu và những biến động của nền kinh tế thế giới năm 2011 này. Xếp hạng đánh giá tín dụng AAA của Thụy Sĩ dường như miễn dịch với những gì biến động đang diễn ra ở các quốc gia láng giềng.

Ngân hàng thế giới đã phải cảnh báo nước này rằng họ sẽ can thiệp nếu giá trị đồng tiền nước này tiếp tục tăng và không cho phép nước này xuất khẩu đồng tiền trong thời gian này vì tiền của các quốc gia khác đang tiếp tục giảm.

Quốc gia miền núi này có số dân chỉ hơn 7,6 triệu người và GDP vào khoảng 324,5 tỷ USD năm 2010. Tỷ lệ thất nghiệp nước này thấp một cách đáng kinh ngạc, nợ công vẫn của Thụy Sĩ chiếm 38,2% GDP năm 2010; thuế của Thụy Sỹ là khá thấp, hệ thống y tế của nước này là một cơ chế pha trộn, Thụy Sĩ cũng có những rào cản đối nhất định với việc nhập quốc tịch; và một mô hình nghỉ hưu hợp lý, tất cả những điều này kết hợp lại khiến Thụy Sĩ không có mối nguy hại thực sự nào đối với xếp hạng tín dụng AAA của nó. Thế giới có thể bị dồn đến địa ngục, nhưng Thụy Sỹ vẫn chiếm ưu thế.

Cũng theo những đánh giá này, Áo, Phần Lan, Pháp, Anh là những quốc gia đanh trên bờ vực mất xếp hạng AAA.

Xuất khẩu vàng không phải là ‘tội đồ’

Posted: 17 Aug 2011 04:00 PM PDT

(VEF.VN) - Qua cơn sốt vàng, xuất khẩu được quy là nguyên nhân gây thiệt hại cho nền kinh tế. Có ý kiến cho rằng cần cấm xuất cấm xuất khẩu vàng, Ngân hàng Nhà nước thì tính tăng cường quản lý bằng cách thu về một đầu mối. Tuy nhiên, xuất khẩu vàng có hẳn là nguyên nhân gây ra bất ổn giá vàng và cấm có hẳn là cách hay?

Rạch ròi xuất khẩu và làm giá

Như một luồng thông tin chung, hầu hết mọi lý giải đều cho rằng xuất khẩu là nguồn gốc gây nên thiếu hụt nguồn cung, tạo thuận lợi cho đầu cơ và làm giá vàng. Điều đó, khiến cho cơn sốt vàng vừa qua thêm khủng khiếp. Hậu quả, không chỉ người dân thua lỗ mà còn khiến Việt Nam phải đối mặt với nhiều sức ép về nhập siêu và tỷ giá khi phải mua rẻ, bán đắt.

Nhưng, trong cơn sốt vàng vừa qua, lần đầu tiên người ta đã đề cập đến mối liên hệ giữa xuất khẩu và làm giá. Tuy có một sự liên hệ nhất định trong tình huống này nhưng đây là hai vấn đề khác nhau và cần có cái nhìn tách bạch để khách quan hơn.

Giá vàng trong nước tăng hơn giá thế giới là chuyện đã có từ lâu, mỗi khi xảy ra cơn sốt. Cũng không khó để xác định nguyên nhân do làm giá của giới buôn bán trong nước. Đó một hiện tượng lặp di, lặp lại trở thành đặc trưng của thị trường vàng Việt Nam.

Thói quen của người dân là hay lo lắng và mua vàng vào khi giá chớm tăng và đổ xô bán ra khi giá chớm hạ. Dựa vào đó, giới buôn bán nắm được nhiều thông tin. Với tiềm lực về vàng và tiền nên khi dự đoán được xu hướng giá tăng, họ sẽ bỏ tiền ra gom vàng đẩy giá leo thang dần, cộng với các chiêu tung tin, tác động tâm lý... khiến thị trường "tăng nhiệt" một cách đều đều, gây sự chú ý và gieo một nỗi lo lắng trong nhiều người.

Và chỉ chờ đến thời điểm giá vàng thế giới có mức tăng đột biến, giới làm giá trong nước lập tức đẩy lên rất cao, làm loạn giá, khuấy đảo thị trường để kiếm lãi.

Theo giải thích của giám đốc một DN kinh doanh vàng ở Hà Nội, thông thường, việc làm giá cũng có quy luật khá phổ biến như trên. Điều này cũng đã được áp dụng trong đợt sốt vàng vừa qua. Bên cạnh đó, yếu tố xuất khẩu vàng như một thông tin làm cho cơn sốt lần này thêm phúc tạp và nó được các tay làm giá tận dụng triệt để.

Ngay chính những DN kinh doanh vàng cũng thừa nhận, xuất khẩu vàng trong những tháng đầu năm ở mức khoảng trên 30 tấn so với nguồn vàng hiện có trong nước hàng trăm tấn thì không thể nói là thiếu hụt.

Ông này cũng khẳng định vàng đã bị làm giá vàng thông tin thiếu vàng do xuất khẩu đã được tung ra nhằm làm rối người mua mà thôi.

Trong khi đó, việc xuất khẩu vàng mới chỉ nổi lên trong những năm gần đây. Trong thời kỳ đầu, nó được xem là một sự "xuất hiện mới' giúp giảm nhập siêu. Bên cạnh đó, theo các chính sách thì xuất khẩu vàng vẫn được khuyến khích dưới dạng chế tác nữ trang nhằm gia tăng giá trị và tạo công ăn việc làm trong nước. Công bằng mà nói, nhiều DN đã xem đây là một hướng kinh doanh có lợi và đầu tư dài hạn.

Tuy nhiên, do giá thế giới tăng nhanh, việc xuất khẩu vàng được đẩy mạnh, thậm chí để kiếm lợi, một số DN còn chế vàng dưới dạng nữ trang thô, hạ thấp tuổi vàng xuống dưới 99% để trốn thuế... Vì thế, dù mang về một lượng kim ngạch ngoại tệ lớn, và đặc biệt mang lại lợi nhuận lớn cho DN, thì xuất khẩu vàng và các DN thu gom xuất khẩu vàng đang bị nhìn nhận dưới góc độ không thiện cảm.

Đặc biệt, qua cơn sốt vàng, xuất khẩu vàng đang bị coi là "tội đồ" và cần bị xử lý. Tuy nhiên, với cái nhìn trên đây, một chuyên gia về thị trường vàng lâu năm lại cho rằng, cần có một cái rõ ràng về hai vấn đề này. Xuất khẩu là quyền của DN, họ không sai nhưng tất nhiên có những tác động bất lợi cần được chấn chỉnh. Còn thị trường vàng bị thao túng, làm giá đã là một "bản chất" do chúng ta quản lý kém.

Để chấn chỉnh những việc này, cần một chính sách cơ bản và dài hơi. Không chỉ đổ tại xuất vàng và cấm là xong. Một bằng chứng là, có thông tin nhập khẩu vàng, dù chưa có vàng về, giá đã rớt xuống rất nhanh.

Thay đổi một quan điểm

Để làm dịu cơn sốt vàng, Ngân hàng Nhà nước đã chấp nhận cho nhập khẩu 5 tấn vàng và sẵn sàng cho nhập khẩu năm tấn nữa. Với diễn biến này, một thực tế được nhiều người đặt ra là Việt Nam đã bán đắt và mua rẻ trong việc xuất nhập khẩu vàng.

Theo tính toán, với việc nhập khẩu 5 tấn vàng vào thời điểm hiện tại, Việt Nam sẽ tiêu tốn khoảng 250 triệu USD. Đây là một khoản ngoại tệ lớn trong thời điểm cả nước đang chống nhập siêu; nhập khẩu vào lúc giá cao nhất quang mốc 1.800 USD/ounce... khiến cho nhận định xuất khẩu vàng là sai lầm càng được củng cố.

Trong sáu tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất 30 tấn vàng, thu về 1,2 tỷ USD, tính trung bình 40 triệu USD/tấn vàng. Và nếu so với giá nhập về khoảng 50 triệu USD/tấn thì có lẽ, Việt Nam đã "vấp vố đau" khi bán rẻ và nhập đắt.

Tuy nhiên, nhìn dài hơn, lần tuyên bố được nhập khẩu vàng gần đây nhất của Việt Nam là vào đầu tháng 11/2010, giá vàng lúc đó dưới 1.400 USD. Trước đó nữa, Việt Nam cũng cho nhập khẩu vàng vào đầu tháng 10/2010, giá vàng lúc đó xoay quanh mốc 1.350 USD/ounce.

Từ đầu năm đến nay, giá vàng đều có xu hướng đi lên mạnh mẽ. Giá tháng 1/2011 cũng trên 1.350 USD nhưng đến tháng 2 đã vượt mốc 1.400, cuối tháng 4 đã là 1500 USD và từ đó giá vàng tiếp tục "thăng thiên" qua mốc 1.600-1.700 USD/ounce vào những tháng tiếp theo.

Số vàng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm chí ít cũng được mua về từ cuối 2010 và so sánh giá như trên cho thấy, ở "kỳ" mua và bán này thì các nhà xuất khẩu đã có lợi lớn và tất nhiên, nguồn ngoại tệ đưa về cũng có những tác động hữu ích cho nhiều đối tượng khác.

Thậm chí, số vàng được phép nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2010 khá ít, có thể không đủ 30 tấn nên phải gom cả những vàng đã nhập từ trước đó với giá rẻ hơn. Vậy thì xuất khẩu đã có lãi khá.

Trao đổi vấn đề xuất nhập khẩu, một chuyên gia ở Bộ Tài chính kể lại câu chuyện, năm 2008, do lo ngại giá phôi thép tăng lên nên nhiều DN đã nhập khẩu với một số lượng lớn về để dành. Sau đó, nhu cầu trong nước xuống thấp, thép ế nhưng giá thế giới lại tăng cao nên nhiều DN đã tái xuất và thu lợi khá.

Điều đáng nói là, sau đó, Bộ Tài chính đã liên tiếp tăng thuế để hạn chế xuất khẩu nhưng các DN và Hiệp hội Thép phản ứng khá mạnh. Quá trình tranh cãi giữa một bên hạm chế xuất khẩu để giữ lại trong nước và một bên xuất khẩu kéo dài đến khi hạ được thuế thì thép thế giói cũng mất giá, DN mất đi một cơ hội kiếm lời.

Thời điểm đó, có nhiều chuyên gia đã đặt vấn đề, cần xem lại quan điểm cái gì thiếu mới nhập và thừa mới xuất khẩu, chính sách sản xuất thay thế nhập khẩu... thay vào đó là tư duy tập trung theo thế mạnh và hiệu quả.

Chuyên gia từ Hiệp hội Thép thời điềm đó nhấn mạnh, Việt Nam đã tham gia thị trường thế giới, là thành viên WTO thì DN cần tư duy theo thị trường quốc tế. Quan điểm như trên cần phải thay đổi, DN Việt Nam không thể chỉ nhập và xuất phục vụ cho trong nước mà cần vươn ra kinh doanh và kiếm lời trên thị trường quốc tế.

Ông này dẫn chứng: Singapore không có dầu và sắt nhưng là tay buôn lớn về mặt hàng chiến lược này; London không có một hecta cà phê hay nông sản nào nhưng họ vẫn là tay buôn số một thế giới và "vô địch" thu lợi từ nông sản. Chúng ta không có sắt nhưng điều ấy không có nghĩa chúng ta không thể buôn bán mặt hàng này trên thế giới. Và cũng đừng ngây thơ và đi trái quy luật cho rằng, giữ lại phôi sắt giá rẻ thì thành phẩm trong nước sẽ rẻ hơn thế giới.

Vàng và sắt là hai mặt hàng khác nhau, sự chi phối khác nhau nhưng từ đây có thể nhận thấy một cái nhìn mới về kinh doanh xuất nhập khẩu thoáng và hiện đại hơn. Theo đó, dù không có vàng Việt Nam vẫn có thể là buôn bán vàng và kiếm lãi từ vàng trên thị trường thế giới. Tương lai, nhiều mặt hàng như gạo, cà phê... Việt Nam đang xuất cái mình có và bị người khác làm giá thì hoàn toàn có thể vươn lên ngoài việc bán cái mình có thì có thể trở thành một thế lực kinh doanh trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, vàng là một tài sản tài chính, có tác động lớn đến kinh tế và sự ổn định của quốc gia, nên việc xuất nhập cần một cơ chế đặc thù và kín kẽ để đảm bảo quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, không đánh mất cơ hội kiếm lời cho DN và nền kinh tế nhưng cũng không để việc xuất nhập ảnh hưởng đến sự định thi trường trong nước và chính sách tiền tệ quốc gia. Đó mới là điều cần thiết. Còn để tránh việc sốt vàng và làm giá trong nước, cần sớm có một cơ chế giao dịch vàng để mọi người được mua bán thuận tiện, minh bạch và dễ dàng kiểm soát.

“Hô biến” thịt vịt vụn thành... dê nướng

Posted: 18 Aug 2011 03:34 PM PDT

"Hô biến" thịt vịt vụn thành... dê nướng

Nhìn những xiên thịt dê nướng thơm ngon – món ăn vặt nổi tiếng trong ẩm thực Trung Hoa, ít ai ngờ lại có nguyên liệu chính là thịt vịt vụn kèm các chất phụ gia tạo mùi.

TIN BÀI KHÁC


Trò kinh doanh "treo đầu dê, bán thịt chó" của những cửa hàng thịt dê nướng này, theo Tân hoa xã, đang được bày bán công khai và tràn lan tại nhiều con phố ẩm thực bởi những sạp hàng đồ nướng bày bán món ăn giả mạo này .
Món ăn vặt nổi tiếng này cũng bị các chủ cửa hàng dùng chiêu "treo đầu dê, bán thịt chó".
Để tạo nên món ăn vặt trá hình này, chỉ cần nguyên liệu thịt vịt tạp nham và những chất phụ gia tạo mùi và tạo màu, như bột, tinh bột thịt dê, keo tạo màu…bày bán tràn lan trên thị trường. Theo một chủ cơ sở kinh doanh loại đồ ăn này, những hương liệu trên sẽ khiến món thịt xiên thêm dậy mùi vị và màu sắc bắt mắt.

Người này tiết lộ, chỉ cần trộn hỗn hợp thịt vịt nguyên miếng, thịt vụn, ướp và bóp thịt với các gia vị theo công thức của món dê nướng rồi trộn với các phụ gia là sẽ có món thịt dê giả hoàn hảo. "Để tạo cảm giác thật hơn cho món tạp nham này, người ta có thể cho thêm vài miếng thịt dê khiến thật giả lẫn lộn để đánh lừa thị giác của khách hàng", anh này cho biết.

Mốt số chủ hộ kinh doanh hương liệu thực phẩm thẳng thắn tiết lộ: "Để biến thịt vịt, thịt gà thành thịt dê, bí quyết thành công nằm ở hương liệu. Các cửa hàng đồ nướng đều rất ưa dùng loại phụ gia này".

Theo tìm hiểu, mỗi tối, một sạp hàng bán được 300 xiên thịt, nếu là loại xịn chỉ có lãi 5 hào, trong khi bán loại thứ phẩm hoặc thịt vịt, lời lãi sẽ tăng lên gấp bội.

Thông tin này đang khiến dư luận Trung Quốc vô cùng bức xúc. Nhiều ý kiến cho rằng, các cán bộ quản lý vệ sinh thực phẩm đã không làm tròn trách nhiệm trong xử lý dứt điểm vụ việc này, khiến những chủ sạp kinh doanh thịt dê nướng giả vẫn tiếp tục móc túi khách hàng với chiêu lừa siêu trắng trợn.

(Theo Đất Việt)

Tận mục hành phi được làm từ hành tây, bột và mỡ bẩn

Posted: 18 Aug 2011 10:15 AM PDT

Đó là "công thức" làm hành phi ở thôn Thuận Quang, xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội. Sự nhập nhèm về sản phẩm và cách thức chế biến không an toàn ở đây hầu như không được kiểm soát.

TIN BÀI KHÁC


Chúng tôi tới xưởng sản xuất của ông Lê Văn Quân - cơ sở lớn nhất thôn với 25 công nhân và đủ các thiết bị phục vụ cho việc chế biến hành phi. Ngay cửa, một nhóm công nhân đang ngồi cặm cụi bóc vỏ hành tây, bên trong là một dãy các loại máy nghiền hành, xoong, chảo để phục vụ cho việc xào, sấy hành.


Giá nào cũng bán

Ngỏ ý muốn được học hỏi để làm hành phi tại nhà, tôi được bác L- người làm ở đây hướng dẫn: Hành tây xắt nhỏ, sau đó sẽ được vắt sạch nước rồi cho vào trộn với bột khoai tây hoặc bột sắn trước khi cho vào chảo rán. Mỗi tấn hành tây cho ra lò khoảng 250kg hành phi. Nhưng nếu trộn với khoảng 200 – 300kg bột khoai tây hoặc bột sắn thì có thể thu về tới 500kg hành phi thành phẩm.

Sản xuất hành phi tại cơ sở của ông Lê Văn Quân.
Ở Thuận Quang, mặt hàng hành phi thường bị "nhập nhèm" về nguyên liệu. Những người làm nghề khi được hỏi đều chỉ nói chung chung là làm "hành phi", hiểu là hành ta khô phi thơm cho vào thức ăn, nhưng thực tế lại là hành tây. Ngoài khâu chế biến kém vệ sinh, nhập nhèm nguyên liệu, các hộ kinh doanh đều dùng dầu đã qua sử dụng để phi hành. Chúng tôi quan sát thấy các chảo dầu được tái sử dụng nhiều lần đã chuyển màu đen quánh, bốc mùi hôi nồng nặc. Chị Trần Thị K - người dân Thuận Quang, cho hay: "Những ngày mưa lạnh còn đỡ chứ những hôm nắng nóng cộng thêm mùi cháy khét lẹt của hành, dầu mỡ xào sấy thì rất khó chịu".

Vì nguyên liệu rẻ, dầu mỡ ôi nên giá hành phi ở đây "rẻ bất ngờ". Hành phi bình thường sẽ có giá từ 65.000- 70.000 đồng/kg (trong khi giá hành khô đã là 40.000-50.000 đồng/kg, phi khô sẽ ra khoảng 300.000 đồng/kg); loại được trộn với bột khoai tây thì giá chỉ còn khoảng 30.000 đồng/kg. Giá cả hoàn toàn tùy thuộc vào nguyên liệu chế biến, tỷ lệ pha trộn và loại dầu/mỡ dùng để phi.

Hành phi sau khi đóng gói được đưa đi tiêu thụ ở khắp nơi trên cả nước. "Chúng tôi làm công nhân ở đây từ khi xưởng mới thành lập, có thêm thu nhập trang trải cho gia đình ngoài việc làm ruộng. Hàng làm nhiều lắm, tôi chỉ biết là bán về nông thôn thôi, còn đi đâu thì chịu"- bác L chia sẻ.


Lo ngại ô nhiễm môi trường

Hiện ở thôn Thuận Quang có khoảng 120 hộ gia đình làm hành, trong đó có 30 hộ làm hành phi, nhưng chỉ có 7 hộ đăng ký nhãn hiệu và được cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Các cơ sở còn lại chưa tuân thủ đúng quy trình sản xuất, gây mất vệ sinh, làm ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình trong thôn.

Nhiều người dân ở Thuận Quang cho biết, chưa từng thấy ngành y tế, quản lý thị trường vào kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như nguồn gốc xuất xứ hàng hóa ở các cơ sở làm hàn

Để sản xuất hành thành phẩm, một lượng lớn phế phẩm nảy sinh: Vỏ hành tây, vỏ khoai, sắn. Hầu hết phế phẩm này được đổ ra đồng ruộng, phần khác đem ra thùng rác đổ cùng rác thải làm bốc mùi nồng nặc, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân xung quanh. Bà Nguyễn Thị Ngoãn – Chủ tịch Hội Nông dân xã Dương Xá cho biết: "Cũng đã có một số ý kiến phản ảnh về việc gây mất vệ sinh và ảnh hưởng nguồn nước khu vực nhưng các hộ sản xuất hành đều là người trong thôn nên bà con ngại làm ầm ĩ".

Ông Nguyễn Đức Nhan - một người dân trong thôn, cho hay: "Khi người dân có ý kiến, chính quyền đã yêu cầu các hộ làm hành thực hiện đảm bảo vệ sinh, không làm ô nhiễm nguồn nước, gây ảnh hưởng đời sống các hộ xung quanh. Nhưng thực tế thì các cơ sở chấp hành được một thời gian, rồi mọi việc lại đâu vào đấy".


(Theo Dân Việt)

 

Bất ổn lãi suất, tỷ giá: ứng phó nào cho DN Việt

Posted: 18 Aug 2011 09:39 AM PDT

Hơn một nửa năm 2011 đã đi qua với những biến cố đầy kịch tích của nền kinh tế thế giới khi cuộc khủng hoảng nợ công bùng phát cả ở châu Âu và nay là Mỹ. Nhiều chuyên gia lo ngại "bóng ma" khủng hoảng tài chính toàn cầu một lần nữa lặp lại trong nửa cuối năm 2011 và kéo dài sang tận năm sau khi mới đây S&P đã hạ mức xếp hạng tín dụng của kinh tế Mỹ làm cả thế giới chao đảo và hoảng sợ.Cho dù còn quá sớm để  nói về một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới, nhưng rõ ràng là  kinh tế thế giới sẽ tiếp tục chao đảo nặng nề trong thời gian dài tiếp theo. Đặc biệt, lạm phát toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng nếu Mỹ không có cách nào khác tiếp tục ban hành các gói kích cầu tiêu dùng mới, và thậm chí in thêm đôla để trả nợ.

Trước bối cảnh như vậy, kinh tế trong nước vốn đã khó khăn lại càng có nhiều rủi ro. Nguy cơ lạm phát tiếp tục cao đồng nghĩa với lãi suất và tỷ giá tiếp tục bất ổn định và khó có thể giảm nhanh trong thời gian tới. Các doanh nghiệp tiếp tục phải gồng mình trước sức ép về lạm phát, về rủi ro lãi suất và tỷ giá khi chính sách tiền tệ tiếp tục được thắt chặt, cùng với đó, sự thay đổi chóng mặt của giá vàng đã bắt đầu rục rịch kéo theo sự chuyển dịch của tỷ giá.

Có thể thấy rằng những rủi ro về lãi suất và tỷ giá có thể còn sẽ kéo dài và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp và để trụ vững và tận dụng tốt nhất những cơ hội đang có nhằm tạo đà cho năm 2012 vốn được dự đoán là rất khó khăn trong bối cảnh chung, việc nhận diện các rủi ro về tỷ giá, về lãi suất cũng như đưa ra được các chiến lược thoát ra những vòng xoáy rủi ro trong bối cảnh kinh tế hiện tại là rất cần thiết đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.



Rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp Việt Nam

Có khá nhiều dữ liệu chứng tỏ quá trình tăng trưởng hay chiến lược tăng trưởng, mở rộng của các doanh nghiệp Việt Nam là dựa vào vốn, bao gồm vốn trong nước và vốn vay nước ngoài. Với mô hình tăng trưởng nhanh và dựa chủ yếu vào vốn vay thì vấn đề rủi ro về lãi suất và tỷ giá đối với doanh nghiệp luôn là điều phải quan tâm với bất kỳ doanh nghiệp nào.

Cấu trúc tài chính bất hợp lý và rủi ro: Nhìn vào cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay dễ dàng nhận thấy các doanh nghiệp đang dựa vào 2 nguồn tài chính chủ yếu là tín dụng ngân hàng và vốn phát hành cổ phiếu. Tuy nhiên hai năm trở lại đây, việc huy động qua cổ phiếu trong điều kiện thị trường chứng khoán hiện nay đã trở nên hết sức khó khăn do giá chứng khoán giảm liên tục, thực tế này đã buộc các doanh nghiệp phải huy động thông qua vay nợ ngân hàng hoặc các công cụ nợ khác (bao gồm trong nước và nước ngoài), trong đó vay nợ ngân hàng chiếm tỷ lệ khá lớn.

Khảo sát không chính thức và thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam có cấu trúc tài chính dựa vào vốn ngân hàng khá nặng nề, bao gồm cả vốn trung và dài hạn. Tỷ trọng vốn tự có của doanh nghiệp trong nguồn vốn kinh doanh ở doanh nghiệp rất thấp, phần còn lại, 80-90% là vốn vay từ ngân hàng hay từ các tổ chức tài chính. Với nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp phần lớn là vốn vay ngân hàng (dựa vào vốn tín dụng ngân hàng) như vậy, nên kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất ngân hàng và khả năng đáp ứng vốn của NHTM. Thông điệp của Chính phủ gần đây đã phát đi về tiếp tục chính sách thắt chặt, thận trọng… báo hiệu rằng, vấn nguồn vốn từ khu vực ngân hàng sẽ tiếp tục khan hiếm và  chắc chắn sẽ là vấn đề trung hạn, trong vài năm nữa.

Rủi ro lãi suất ngày càng gia tăng?

Rõ ràng, các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua đã khá thụ động và chưa phản ứng kịp thời với sự biến động của lãi suất; Do đó doanh nghiệp đã phải "lãnh đủ" sự rủi ro biến động lãi suất. Trong điều kiện cấu trúc tài chính doanh nghiệp dựa vào ngân hàng như trên và  thời hạn vay chủ yếu là ngắn hạn (chiếm hơn 80% vốn vay ngân hàng), cũng như doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ nhiều thì rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua và thời gian tới là rất cao. Thực tế cho thấy, từ vài năm gần đây (nhất là từ cuối năm 2010), các NHTM Việt Nam đang chuyển sang cơ chế lãi suất thả nổi (biến động theo thị trường); Lãi suất cho vay của NHTM hiện tại (cuối tháng 7 đầu tháng 8/2011) đã  trên 20% ; So với  lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp với lãi suất ngân hàng hiện nay, nhiều doanh nghiệp cho rằng khó có doanh nghiệp nào có lãi trên 20%.

Khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam năm 2010 cho thấy chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp được khảo sát chịu đựng được mức lãi suất vay từ 16-20%/năm (vào thời điểm đầu năm 2010); Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ sẽ thu nhỏ quy mô sản suất nếu lãi vay ngân hàng tiếp tục gia tăng cùng với điều kiện môi trường kinh doanh trở nên khó khăn hơn.

Quan sát cách ứng xử của ngân hàng (bank behavior) cho thấy, dường như các ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua luôn tìm mọi cách đẩy chi phí cho phía doanh nghiệp, thông qua các loại phí dịch vụ rất mới lạ mà trước đây không hề có (như phí dàn xếp, phí thẩm định, phí quản lý tài khoản,..). Số liệu công bố về kết quả tài chính của khối ngân hàng lãi rất cao trong năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, trong khi đa số doanh nghiệp thua lỗ cũng phản ánh tình trạng này. Với cách ứng xử của ngân hàng như vậy, phản ánh ngân hàng đang ở thế cho vay (độc quyền cao) thì doanh nghiệp lại càng chịu đủ mọi rủi ro lãi suất là điều tất yếu.

Rủi ro tỷ giá - doanh nghiệp đang tích lũy?

Trong thời gian qua, biến động về dư nợ tín dụng VND và ngoại tệ và diễn biến tỷ giá, lãi suất ngoại tệ ở khu vực ngân hàng Việt Nam cho thấy có dấu hiệu rằng các doanh nghiệp đã giải bài toán lãi suất cao bằng cách chuyển sang vay ngoại tệ với lãi suất thấp hơn (lãi suất vay VND thường 20% trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 5%/năm). Tuy nhiên, trên góc độ rủi ro tỷ giá lại thấy rằng, doanh nghiệp đang tự tích lũy rủi ro (!).

Thông qua số liệu tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ cũng có thể thấy, các doanh nghiệp đang tự tích lũy rủi ro tỷ giá khá rõ ràng. Số liệu thống kê tương đối và tuyệt đối cho thấy, mức độ rủi ro tỷ giá đang ngày một tăng đối với các doanh nghiệp trong vài năm gần đây cũng như những năm tới: năm 2010, tín dụng ngoại tệ tăng 49,3%  so với năm 2009 (tổng tín dụng cho nền kinh tế tăng 29,81% so với năm 2009 và trong đó, tín dụng VND tăng 25,3%). Số liệu tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2011 cũng cho thấy các doanh nghiệp vẫn tiếp tục vay nợ ngoại tệ, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 23,4%  so với cuối năm 2010  (trong khi dư nợ tín dụng cho nền kinh tế  tăng 7,13% so với cuối năm 2010 và tăng 26,07% so với cùng kỳ năm 2010; trong đó tín dụng VND tăng 2,67% (số liệu đến 20/6/2011);



Diễn biến cán cân thanh toán quốc tế (trong đó đặc biệt nhập siêu vẫn cao trên dưới 20% xuất khẩu, dòng vốn quốc tế vào chậm,… như những năm gần đây và dự báo năm 2011) và diễn biến tỷ giá những tuần đầu tháng 8/2011 cho thấy, vấn đề rủi ro tỷ giá đối với khu vực doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang là mối quan ngại. Kinh nghiệm và bài học những năm qua và dự báo cho thấy, vào thời điểm cuối năm 2011 và đầu năm 2012, sẽ là thời điểm nhậy cảm về biến động tỷ giá.

Chiến lược thoát ra

Như trên cho thấy, cơ cấu tài chính thực tại của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung là khá bất hợp lý và bất cân đối, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá trong quá khứ đã là bài học thì trong  thời gian tới vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Vấn đề chiến lược thoát ra rõ ràng là rất cần đối với các doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh khó khăn như hiện nay. Kinh nghiệm cho thấy,khi khó khăn là cơ hội để nhìn thấy điểm yếu của mình và là thời điểm tốt nhất để đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp. Trong điều kiện như vậy, một vài gợi ý đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có thể là:

Cơ cấu lại doanh nghiệp một cách tổng thể: Nhìn chung trong bất kỳ điều kiện khó khăn nào, doanh nghiệp cũng cần rà soát lại tất cả các khâu của doanh nghiệp (trực tiếp đến gián tiếp); xác định rõ hơn định hướng phát triển doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuất, sản phẩm chủ chốt; xác định lĩnh lĩnh vực nào là rủi ro nhất (như rủi ro lãi suất, tỷ giá) … của doanh nghiệp. Trong thực tế các doanh nghiệp Việt Nam đã rất nỗ lực chiến lược này; Khảo sát của VCCI như đã nêu cũng cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang mạnh dạn cắt giảm đáng kể các hoạt động không thiết yếu. Khuynh hướng này chắc chắn sẽ đảm bảo để doanh nghiệp tập trung hơn cho cạnh tranh hiệu quả hơn.

Cơ cấu lại tài chính- chấp nhận mua bán sáp nhập- giải pháp nâng cao năng lực quản trị, quản lý doanh nghiệp: Việc cơ cấu tài chính trong điều kiện khó khăn không bao giờ là dễ đối với doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế suy thoái, khó khăn. Kinh nghiệm cho thấy, hình thức cơ cấu lại tài chính cắt giảm chi phí có thể cắt giảm được (chi phí lương nhân công, chi phí trung gian) và cố gắng tìm nguồn tài chính giá rẻ và ổn định, chấp nhận chuyển nhượng sở hữu doanh nghiệp. Cách ứng xử với biến động giá cả đầu vào của doanh nghiệp (firm's price behavior) hàng đầu thế giới như HSBC, City Bank … đã cắt giảm nhân viên rất mạnh, sắp xếp lại nhân sự và quy trình làm việc, giảm chi phí quản lý rất mạnh trong thời gian khó khăn  vừa qua là một ví dụ rất đáng tham chiếu cho các doạnh nghiệp Việt Nam.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước thường rất khó cắt giảm nhân công do nhiệm vụ chính trị mô hình ứng xử với giá của nhóm này đặc biệt và không nhạy cảm với biến động giá đầu vào (giá đầu vào càng tăng thi có thể doanh nghiệp nhà nước vẫn tăng nhân sự, tăng chi tiêu…).  

Đánh giá khái quát cho thấy, các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần thì vấn đề cắt giảm chi phí nhân sự đã diện ra khá thuận lợi. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp dừng vay ngân hàng, đồng nghĩa với thu hẹp hay dừng sản xuất kinh doanh, cắt bớt hợp đồng kinh tế  và do  đó nhiều doanh nghiệp vẫn phản tiếp tục cầm chừng sản xuất … Vấn đề bán doanh nghiệp (bán một phần), sáp nhâp ở Việt Nam diễn ra khá khó khăn. Khảo sát sơ bộ cho thấy, có khá nhiều quan điểm nhìn nhận tiêu cực về sáp nhập (theo nghĩa, sự mất mát, sự thôn tính…).

Trên quan điểm phát triển lành mạnh, việc chấp nhận bán công ty, chủ động tìm kiếm đối tác chiến lược cần được nhìn nhận và coi là chiến lược thoát ra trong quá trình cơ cấu lại tài chính doanh nghiệp; và qua đó cũng dẫn đến quá trình cơ cấu lại doanh nghiêp và hệ thống quản trị quản lý rủi ro về lãi suất, rủi ro về tỷ giá và nhìn chung vấn đề quản trị rủi ro về tài chính sẽ được củng cố lại. Đối tác chiến lược mới sẽ là luồng gió mới thay đổi doanh nghiệp, những điều mới  này sẽ không những làm cho doanh nghiệp thoát ra khỏi tình trạng rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hiện thời mà cả trong tương lai là nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển tốt hơn của doanh nghiệp.

Thạc sỹ Lê Văn Hinh

Ngày 06/09/2011, Hội nghị thường niên Vietnam CEO Summit năm 2011 do Vietnam Report và báo VietnamNet phối hợp tổ chức sẽ diễn ra tại KS Sheraton, T.P Hồ Chí Minh với chủ đề "Cơ hội vượt lên trong năm 2012: Góc nhìn của các doanh nghiệp hàng đầu và doanh nghiệp tăng trưởng".


Hội nghị sẽ là nơi các CEO, COO của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, các chuyên gia kinh tế đến từ các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước tham gia thuyết trình và thảo luận những khó khăn và triển vọng phục hồi kinh tế cũng như những cơ hội, thách thức để nâng cao năng lực cạnh tranh và vượt lên trong năm 2012.


Đặc biệt Hội nghị có sự tham gia thuyết trình của 2 CEO là diễn giả độc quyền của BTC đến từ 2 tập đoàn hàng đầu thế giới là Bà Liv Watson – Giám đốc Điều hành (COO) XBRL International và Ông Roland Schatz – Tổng giám đốc (CEO) Media Tenor International, chuyên gia về nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông đối với các sự kiện.


Bi kịch nông dân thành tỉ phú nhờ đất

Posted: 18 Aug 2011 09:10 AM PDT

Giá đất tăng vọt, nhiều nông dân không ngần ngại bán sạch số ruộng vốn là kế sinh nhai của gia đình để lấy tiền ăn chơi, hưởng thụ.

TIN BÀI KHÁC

Đặc sản côn trùng: Rình rập nguy cơ tử vong
Đào trâu bò chết lên... chế biến thành đặc sản
KFC liên tiếp dính bê bối an toàn thực phẩm

Theo công bố chính thức về kế hoạch sử dụng đất của Sở Tài nguyên & Môi trường TP HCM, tổng diện tích đất ở trên toàn thành phố là 7940 ha, trong đó những khu đô thị chiếm 5126 ha, còn lại 2778 ha là đất nông thôn. Trước tình hình gia tăng dân số tự nhiên nhiều khu dân cư đô thị mới liên tục hình thành và phát triển. Tốc độ đô thị hóa càng nhanh, tình hình đất đai càng biến động, nhất là ở những khu vực vùng ven ngoại thành và các quận mới thành lập theo chủ trương chỉnh trang đô thị.

Vướng mắc qui hoạch khu dân cư

Quận 2 đã và đang có kế hoạch sử dụng 182 ha để thành lập khu giãn dân Thủ Thiêm , khu dân cư ở Bình Trưng Đông – An Phú. Quận 7 có 5 khu dân cư chiếm diện tích khoảng 100 ha đất gồm Khu định cư số 1, Khu dân cư Tân Phong, Khu dân cư Tân Thuận, Khu nhà ở khu A và dành 20 ha để phục vụ việc mở rộng, chỉnh trang khu nhà ở hiện hữu.


Ảnh Đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp
Với quỹ đất khoảng 420 ha, quận 8 tiến hành xây dựng các khu dân cư tập trung kiểu mẩu như khu Trung Sơn, Phú Lợi – Ba Tơ, khu nhà ở Chợ Lớn... Quận 12, Thủ Đức, Bình Thạnh là những địa bàn có diện tích đô thị gia tăng nhanh như khu dân cư Phước Long, quận 9; khu dân cư công nghiệp Bình Hòa, quận Bình Thạnh; Khu dân cư đô thị mới Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức…

Đối với 4 huyện ngoại thành là Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè và Cần Giờ, cũng có nhiều khu vực được chọn để phục vụ tiến trình đô thị hóa. Đáng kể trong số này là các khu dân cư An Lạc – Bình Trị Đông (50 ha), Vĩnh Lộc (80 ha), Cầu Sáng (972 ha) ở huyện Bình Chánh; Khu dân cư phục vụ công nghiệp Hiệp Phước (100 ha) ở huyện Nhà Bè; Khu dân cư Bình Khánh 950 (ha), phát triển khu dân cư Nông thôn (200 ha) ở Cần Giờ …

Trong quá trình hình thành các khu dân cư mới, đời sống người dân ở những khu vực đô thị hóa không tránh khỏi sự biến động do giá đất tăng vọt, thậm chí có thể đẩy lên thành những "cơn sốt". Bên cạnh đó, nhà nước cũng gặp vướng mắc nhiều khó khăn trong việc đền bù giải tỏa mà vấn đề chính yếu là do khung giá đất đền bù ở một số nơi còn chênh lệch hơn rất nhiều so với giá đất bên ngoài thị trường.

Một vấn đề then chốt khác là việc bố trí tái định cư cũng chưa thật sự thu hút những người dân có đất nằm trong khu qui hoạch. Bà Dung – người có 2.000 m2 đất thuộc diện giải tỏa để xây dựng khu dân cư Bình Trị Đông, Bình Tân – cho biết nguyên nhân vì sao còn chần chừ chưa chịu nhận tiền đền bù và bàn giao đất theo chủ trương chung: "Nhà nước giải tỏa lấy mặt bằng để xây khu đô thị văn minh, tui và các bà con ở đây ai cũng đồng tình, nhưng cũng cần nên tính làm sao đừng để người dân như tụi tui bị thiệt thòi nhiều quá, số tiền đền bù cho tất cả số đất đai, nhà cửa, vườn tược của tôi dành dụm bao nhiêu năm qua, chỉ đủ mua một nền nhà ở khu dân cư mới, thử hỏi làm sao chúng tôi dễ dàng chấp nhận?".

Tái định cư còn nhiều bất cập

Mô hình thích hợp nhất cho việc bố trí tái định cư trong giai đoạn "đất chật người đông" như hiện nay là xây dựng các căn hộ chung cư, vừa đáp ứng cảnh quan đô thị, vừa tiết kiệm quỹ đất vốn ngày càng eo hẹp so với tốc độ tăng trưởng dân số. Nhiều dạng nhà chung cư dành cho người có thu nhập thấp được tiến hành xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu tái định cư.

Tuy nhiên, để được sở hữu một căn hộ như vậy, đối với người nghèo vẫn chỉ là… mơ ước. Có nhiều trường hợp tranh thủ đăng ký mua nhà ngay từ khi căn nhà còn nằm trên… bản vẻ thiết kế, sau đó rao bán lại với giá đắt hơn từ 30 – 40 % trị giá căn nhà.

Ổn định nơi ở là một chuyện, tạo điệu kiện phù hợp với công việc làm ăn lại là chuyện khác. Người dân được bố trí tái định cư đa phần xuất thân từ nông dân, quanh năm gắn bó với ruộng vườn, cả đời quen làm bạn với đàn heo, ao cá… nếp sinh hoạt trong cảnh nhà thoáng đãng, sân vườn rộng rãi không dễ dàng thay đổi khi phải trú ngụ trong những căn hộ tuy tương đối đầy đủ tiện nghi vật chất nhưng diện tích chỉ gói gọn trong phạm vi 30 – 40 m2, lại chót vót trên tầng 4, tầng 5. Thông thường, căn hộ chung cư được thiết kế tiêu chuẩn thích hợp cho gia đình gồm 3 – 4 thành viên, điều này sẽ gây cảnh chật chội, ngột ngạt đối với nhiều gia đình 7- 8 nhân khẩu trước kia vốn quen cảnh sống quây quần 3 thế hệ trong một căn nhà.

Khi nông dân không còn… đất

Với những người lấy nghề nông làm gốc cho cuộc sống, ruộng đất là người bạn thân thiết nhất của họ. Thông qua sức lao động, đất sản sinh những đồng lúa xanh mượt, những vườn cây trĩu quả, nói chung, đất đã cho con người nhiều điều tốt đẹp, nếu chưa muốn nói là tất cả. Bên cạnh đó, lại tồn tại một thực tế dường như nghịch lý: rải rác đây đó trong một số bộ phận nông dân, đã xuất hiện những bi kịch bắt nguồn từ đất.

Giá cả đất đai gia tăng đột biến theo tiến trình đô thị hóa, đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Một số bộ phận nông dân cả đời lam lũ, bổng trở thành… tỉ phú một cách nhanh chóng nhờ bán đất. Tiền, vàng đầy ắp trong tay, nhưng không phải ai cũng biết dùng khoản này để đầu tư kinh doanh, sản xuất có hiệu quả.

Đa số chỉ dùng cho mục đích tiêu xài, xây nhà, mua sắm các vật dụng tiện nghi đắt tiền, hoặc tha hồ vung tay vào những cuộc vui vô bổ… để rồi cuối cùng không ít những trường hợp phải lâm vào cảnh "trắng tay". Tiền hết, đất cũng chẳng còn, tâm lý ngán ngại cảnh tay lấm chân bùn sau thời gian được tiếp cận cảnh sống xa hoa thụ hưởng đã đẩy nhiều hoàn cảnh lâm vào con đường bế tắc, thậm chí trở thành bi kịch.

Ông Tư Hợi, ngụ xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, một lão nông thứ thiệt với dãy ruộng hơn 2 mẫu liền nhau được thừa kế từ cha mẹ. Thời quy hoạch, sức hấp dẫn của giá đất ngày càng tăng vọt, khiến ông Hợi không ngần ngại… bán hết số ruộng đất được thừa kế, thu về hàng ngàn lượng vàng, chỉ dành lại 300 m2 xây tòa… biệt thự "nguy nga lộng lẫy" trước sự "kính nể" của nhiều người. Tiền của dồi dào, những người con của ông Hợi không phân biệt trai, gái, lớn, nhỏ được ban phát mỗi người… vài chục cây vàng để… tùy nghi sử dụng.

Bản thân ông cũng giã từ mảnh vườn, đám ruộng để hòa mình vào lối sống phong lưu, những bữa nhậu dân dã với rượu đế, cá khô cùng vài người bạn hàng xóm dưới gốc rơm, chái bếp, với ông chỉ còn là quá khứ, thay vào đó là các bữa tiệc "linh đình" với bia lon, rượu ngoại, mồi nhấm là các món đặc sản cao cấp ở những nhà hàng sang trọng. "Cả một đời cơ cực lam lũ, bây giờ có điều kiện đổi đời thì tội gì mà không biết tận hưởng cho sung sướng", đó là câu nói ông Hợi thường sử dụng để "thuyết minh" cho cách thay đổi lối sống của mình.

Miệng ăn núi lở, kết quả của sự "tận hưởng" là những tài sản mua sắm cách đó không lâu được ông Hợi lần lượt… đem bán sạch để có tiền xoay xở trong nhà. Gia sản duy nhất còn lại là căn "biệt thự" cũng phải đem cầm thế vì… nợ nần chồng chất. Thảm cảnh chưa dừng lại ở đó, hai trong số 3 người con trai của ông, một người hiện là học viên của Trung tâm cai nghiện ma túy, người đang thọ án tù vì đã trở thành tội phạm trong vụ án cướp giật chỉ vì cần có tiền để giải quyết cơn ghiền ma túy. Thời gian sau này, người ta thường thấy ông Hợi ngồi uống bia hơi một mình, có lẽ để… giải sầu, thỉnh thoảng lại chép miệng thở dài: "Bây giờ không biết phải làm gì để sống khi một cục đất để… chọi chim cũng chẳng còn ".

(Theo Pháp luật Việt Nam)
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét