Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h

tin sốc, tin hot giật gân cướp giết hiếp dâm tin nóng 24h


Tết đến nơi, có nên thực hiện bình ổn giá?

Posted: 21 Nov 2011 03:00 PM PST

Tác giả: TS. Phan Minh Ngọc

(VEF.VN) - Sau khi xem xét kỹ tác động và hậu quả, chủ trương "thí điểm" và "nhân rộng" việc bình ổn giá, coi đó là một chìa khóa thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở TP.HCM và Hà Nội, cần phải được xem xét lại sớm nhất có thể - TS. Phan Minh Ngọc.

LTS: Khi thực hiện thí điểm chương trình bình ổn giá, rất nhiều chuyên gia đã bày tỏ sự không đồng tình và hoài nghi về hiệu quả của nó. Bài viết dưới đây của TS. Phan Minh Ngọc cũng khuyến cáo cần xem xét lại việc triển khai chương trình này. Mời độc giả cùng tham gia tranh luận về chủ đề trên.

TP.HCM, Hà Nội và có lẽ lác đác một số nơi khác, đã và đang thực hiện một số chương trình bình ổn giá cả bằng cách trợ cấp tín dụng (cho vay với lãi suất ưu đãi) để doanh nghiệp tham gia bình ổn giá cả mua tích trữ hàng hóa và cam kết bán ra với giá thấp hơn giá thị trường, thường là 10% hay một con số nào đó.

Nói công bằng, việc trợ giá cho một số loại hàng hóa nào đó không phải là việc làm đầu tiên có ở Việt Nam và chỉ có ở Việt Nam, mà đã được thực hiện nhiều nơi trên thế giới. Hình thức phân phối hàng hóa theo tem phiếu ở Việt Nam nói riêng và ở nhiều nơi trên thế giới nói chung đã và vẫn đang tồn tại. Nhưng bài viết này sẽ chỉ ra rằng, việc bình ổn giá sẽ không mang lại kết quả như mong muốn, và rốt cuộc chỉ làm lãng phí nguồn lực xã hội, hoặc tái phân phối nguồn lực xã hội một cách không cần thiết, không hợp lý, không tối ưu..v..v...

Hãy bắt đầu bằng việc phân tích lý do sản sinh ra chủ trương bình ổn giá. Việc giá cả một loại hàng hóa nào đó tăng lên là biểu hiện sự mất cân đối cung cầu - cung nhỏ hơn cầu (cung và cầu đều có thể biến động tăng giảm nhưng chênh lệch cung cầu đang tồn tại và tăng lên). Để ổn định giá bán hàng hóa - gây ra do cầu lớn hơn cung, chính quyền phải bù đắp phần chênh lệch về giá trước và sau khi có biến động cung cầu này.

Lương thực là một trong những mặt hàng chính nằm trong chương trình bình ổn giá (ảnh WSJ)

Vấn đề sẽ nằm ở chỗ ảnh hưởng của việc trợ giá này lên cán cân cung cầu hàng hóa sẽ như thế nào? Người ta dường như không thấy ảnh hưởng trực tiếp vì rõ ràng, tiền trợ giá là từ ngân sách, có vẻ như không ảnh hưởng đến cung của doanh nghiệp và cầu của đại chúng. Nhưng xét kỹ thì sự việc sẽ khác hẳn.

Về phía cầu, giả thiết rằng giá cả thị trường của một hay một số mặt hàng nào đó sẽ tăng lên sau một thời gian nhất định, chẳng hạn 2 tháng nữa, là thời điểm Tết, do nhu cầu của người tiêu dùng tăng mạnh.

Để bình ổn, chính quyền cấp vốn rẻ (thường với lãi suất bằng 0) cho doanh nghiệp thương mại mua và tích trữ hàng trong kho ngay từ bây giờ, chờ 2 tháng nữa tung ra thị trường. Nhưng việc này vô hình trung đã làm tăng cầu tại thời điểm hiện tại lên quá mức thông thường. Với cung không kịp điều chỉnh trong ngắn hạn thì giá cả của những mặt hàng bình ổn buộc phải tăng, phản ánh đúng tình trạng mất cân đối cung cầu tăng lên. Cái giá phải trả cho hành động bình ổn này là lạm phát (tức hiện tượng giá cả tăng lên) sẽ tăng lên ở thời điểm hiện tại (với giả thiết mọi điều kiện khác không thay đổi). Nói cách khác, bình ổn sẽ dẫn đến hậu quả là dịch chuyển thời điểm gây lạm phát trong tương lai đến thời điểm hiện tại; lạm phát thay vì xảy ra trong tương lai sẽ xảy ra tại thời điểm hiện tại, bản chất sự việc (bình ổn giá cả, nhằm kiềm chế lạm phát) không được thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.

Về phía cung, dùng một phần ngân sách để bình ổn giá cả sẽ dẫn đến tình trạng có khả năng phải cắt giảm phần kinh phí dùng để hỗ trợ sản xuất (nếu đã, đang, và sẽ có) cho các doanh nghiệp (về phía cung, ví dụ như hình thức vay ưu đãi để sản xuất). Hậu quả của tình trạng này là nguồn cung không thể gia tăng (tất nhiên với giả thiết là các điều kiện khác vẫn không thay đổi), và do đó, càng làm tăng thêm bất cân đối cung cầu như nói ở trên.

Đáng nói hơn nữa, dùng ngân sách để bù giá trong bối cảnh ngân sách của Trung ương và địa phương luôn ở tình trạng thâm hụt kinh niên sẽ tạo thêm áp lực thâm hụt ngân sách, tùy thuộc vào quy mô bù giá. Thâm hụt ngân sách sẽ phải được trang trải bằng hoặc vay nợ trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tức là một dạng tăng cung tiền qua hành động in tiền của NHNN vào lưu thông, hoặc bằng cách "an toàn" hơn là đi vay mượn trong nước và/hoặc ngoài nước (thông qua phát hành trái phiếu nội tệ, ngoại tệ).

Tất nhiên, một khả năng khác là phải tăng nguồn thu ngân sách, thông qua các biện pháp như tăng thuế, nhưng những biện pháp này hoặc là dẫn đến cắt giảm đầu tư của doanh nghiệp sản xuất (và tức là làm giảm cung), hoặc là đã được cố gắng thực hiện nhưng kết quả không được như mong đợi, thể hiện rõ qua việc thâm hụt ngân sách đã và đang tồn tại từ hàng vài chục năm nay mà không hề có xu hướng được cải thiện.

Như thế, hai biện pháp khả thi để tài trợ thâm hụt ngân sách gây ra bởi việc bù giá (lại giả thiết các điều kiện khác không thay đổi) sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại lên giá cả. Nếu tài trợ bằng việc in tiền từ NHNN thì sẽ làm tăng áp lực lạm phát, kỳ vọng lạm phát, và rốt cuộc lạm phát, theo đó mặt bằng giá cả của hàng hóa nói chung sẽ tăng lên. Nói cách khác, cho dù các mặt hàng được bình ổn giá có thể không tăng nhưng, đổi lại, người tiêu dùng sẽ phải trả giá cao hơn cho vô vàn những mặt hàng tiêu dùng khác, và cuối cùng thì gánh nặng chi tiêu không hề giảm, nếu không muốn nói là cao hơn so với không có bình ổn giá.

Nếu tài trợ bằng vay nợ trong và ngoài nước thì hậu quả sẽ là tăng lãi suất VND (trường hợp huy động bằng nội tệ) hoặc tăng vay nợ nước ngoài (trường hợp huy động bằng ngoại tệ). Tăng lãi suất VND lại sẽ có tác dụng tiêu cực ngược lên phía cung, làm tăng thêm bất cân đối cung cầu hàng hóa như đã nói.

Đối với việc đi vay nước ngoài, tùy thuộc phản ứng của NHNN, tăng vay nợ nước ngoài sẽ hoặc là làm tăng lãi suất VND (1), hoặc là tăng giá VND (2). Cả hai khả năng này đều tác động tiêu cực đến phía cung hàng hóa khi nó làm tăng chi phí sản xuất đầu vào cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, trong trường hợp Chính phủ vay nợ bằng ngoại tệ, khi đến hạn phải trả nợ lãi và vốn, nếu Chính phủ không thể thu xếp được nguồn ngoại tệ để chi trả (cũng vì lý do ngân sách luôn ở trạng thái thâm hụt, giật gấu vá vai), Chính phủ sẽ buộc phải vay mượn trong và ngoài nước, lặp lại vòng luẩn quẩn nói trên. Trường hợp xấu hơn, Chính phủ buộc phải vay ngoại tệ trực tiếp từ NHNN, và do đó làm giảm dự trữ ngoại tệ của NHNN, và tức là giảm khả năng can thiệp vào tỷ giá khi có các biến động vĩ mô bất lợi cho VND (3).

Bên cạnh những tác động tiêu cực lên cân đối thu chi ngân sách và, do đó, lên cung cầu hàng hóa, hành động bình ổn giá cả còn vô tác dụng nếu nó chỉ được thực hiện ở một hay một số địa phương. Việc thực hiện bình ổn giá ở TP.HCM theo lý thuyết sẽ ổn định được giá cả tại đó. Vì chênh lệch giá giữa nơi này và các địa phương trong cả nước, nhất là địa phương lân cận, thương nhân ở các địa phương sẽ đến mua hàng ở đây mang về địa phương mình bán, hưởng chênh lệch giá. Vì thế, theo thời gian, có thể là rất ngắn, chỉ một vài ngày hoặc vài tuần, chênh lệch giá cả sẽ biến mất giữa các địa phương, theo đúng quy luật cung cầu. Nói cách khác, một mình giới doanh nghiệp và thương nghiệp ở TP.HCM sẽ không đủ sức để cáng đáng bình ổn giá cả cho toàn bộ một vùng rộng lớn hơn, nếu không nói là cả nước. Rốt cuộc, của Thiên trả Địa, và mục đích bình ổn, dù chỉ là tại một địa phương, sẽ không được thực hiện.

Lưu ý thêm rằng ở đây chúng ta không đề cập đến chuyện gian lận trong việc thực hiện chương trình bình ổn giá, mặc dù chuyện này dường như không thể tránh khỏi, và do đó làm giảm hơn nữa hiệu quả của việc làm này.

Tóm lại, xem xét kỹ tác động và hậu quả thì hoàn toàn không nên lặp lại hình thức bình ổn giá, một hình thức thu hẹp và biến tướng của chính sách bao cấp về giá trong cả nền kinh tế thời cách đây 2-3 thập kỷ, vốn đã được thực tế chứng minh là một thất bại. Vì thế, những chủ trương "thí điểm" và "nhân rộng" việc bình ổn giá, coi đó là một chìa khóa thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở những nơi như TP.HCM và Hà Nội cần phải được xem xét lại sớm nhất có thể.
_______________________

Chú thích:

(1). Trường hợp này xảy ra khi NHNN không can thiệp gì vào thị trường ngoại hối và tiền tệ. Hành động hoán đổi ngoại tệ đi vay ra VND của Chính phủ để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp tham gia bình ổn giá ở Việt Nam sẽ làm cầu VND tăng lên, dẫn đến lãi suất VND cũng tăng lên tương ứng so với USD.

(2). Nếu NHNN theo đuổi chính sách ổn định lãi suất VND thì lúc này NHNN buộc phải tăng cung VND tương ứng với lượng ngoại tệ mới tăng thêm trong nền kinh tế do vay mượn từ nước ngoài theo tỷ giá hiện thời

(3). Khi đến hạn trả nợ lãi và vốn vay, Chính phủ phải tiếp tục một lần nữa vay mượn VND trên thị trường trong nước để mua ngoại tệ, hoặc trực tiếp vay nước ngoài bằng ngoại tệ, lặp lại vòng luẩn quẩn nói trên. Trường hợp xấu hơn, Chính phủ buộc phải vay ngoại tệ trực tiếp từ quỹ dự trữ ngoại tệ NHNN để trả nợ.

EVN không sòng phẳng

Posted: 21 Nov 2011 03:00 PM PST

(VEF.VN) - Thay vì tự soi xét lại mình, EVN luôn đẩy khó khăn về phía người dân. Đây là biểu hiện của sự thiếu sòng phẳng khi EVN là đơn vị độc quyền cung cấp điện, đang sử dụng nguồn lực tài chính, tài nguyện dồi dào - mà thực chất là tiền thuế do dân đóng góp.

Người dân đã ngán đến tận cổ điệp khúc "lỗ" được phát ra liên tục từ phía Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thời gian gần đây. Điệp khúc ấy một lần nữa được lãnh đạo Bộ Công Thương lên tiếng, kèm theo đó là cảnh báo nguy cơ vỡ nợ của EVN nếu giá điện không tăng.

Tại buổi họp báo công bố giá thành sản xuất kinh doanh điện của EVN chiều 19/11 vừa qua, lãnh đạo tập đoàn này thừa nhận, trong năm 2010, giá bán điện bình quân thực hiện là 1.061,4 đồng/kWh, trong khi đó giá thành sản xuất kinh doanh điện là 1.180,0 đồng/kWh, tức là với chỉ riêng việc kinh doanh điện, EVN đã lỗ 10.162 tỷ đồng.

Mặc dù giá thành điện được công bố chi tiết thông qua các loại chi phí tại các khâu phát điện (916,2 đồng/kWh), truyền tải (65,7 đồng/kWh), phân phối (189,2 đồng/kWh), phụ trợ và quản lý ngành (8,9 đ/kWh), nhưng những con số này vẫn không làm cho nhiều người thỏa mãn.

Được biết, đây là kết quả do Tổ công tác liên Bộ Công Thương - Tài chính kiểm tra thực tế trong tháng 9 và tháng 10 vừa qua. Cuộc kiểm tra được căn cứ trên các văn bản của EVN cung cấp, như báo cáo tài chính có kiểm toán độc lập kiểm toán, báo cáo tài chính hợp nhất năm 2010 sau kiểm toán, hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các đơn vị phát điện... Tuy nhiên, đây chỉ đơn thuần là cuộc kiểm tra về lỗ/lãi chứ chưa phải là cuộc kiểm toán toàn diện các loại chi phí và kiểm toán tính hợp lý của các loại chi phí đó.

Đến bao giờ thì EVN mới làm ăn có hiệu quả và thực sự chia sẻ khó khăn cùng người dân? (ảnh NLĐ)

Đáng nói hơn, kết quả công bố này hầu như không hề nhắc đến những yếu tố mà người dân thực sự quan tâm như thất thoát trong quá trình quản lý, đầu tư các dự án, các nhà máy điện hay các khoản lỗ do đầu tư dàn trải, đầu tư ngoài ngành và đặc biệt là trách nhiệm của những người có liên quan.

Sở dĩ EVN nhận được nhiều quan tâm của dư luận là bởi từ những năm 2006, 2007, EVN được đánh giá là đứng thứ ba về đầu tư ngoài ngành, mà chủ yếu là các ngành không thuộc sở trường và thế mạnh của mình như: tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, du lịch, viễn thông... Đến nay, các khoản đầu tư trái ngành này đều mang lại cho EVN những kết quả thảm hại.

Điển hình là các vụ việc: EVN từng góp vốn đầu tư vào Công ty CP chứng khoán Hà Thành, nhưng đến nay công ty này đã ngừng hoạt động với nghi án chủ tịch HĐQT đã "biến mất" sau khi ẵm gọn khoản tiền đầu tư lên đến hàng trăm tỉ của các cổ đông; EVN cũng đầu tư vào các dự án bất động sản như điện lực Sài Gòn Vina, điện lực miền Trung, EVN Land Nha Trang... nhưng đều không có lối thoát. Nhưng nổi bật nhất vẫn là lĩnh vực viễn thông. Chỉ riêng năm 2010, EVN Telecom đã lỗ hơn 1.000 tỷ đồng.

Ngoài ra, dư luận rất không đồng tình trong việc trả lương thưởng của cán bộ công nhân viên đang làm việc cho EVN.

Trong một số bài viết về việc tăng giá điện được đăng tải trên VEF.VN và các báo khác, có rất nhiều ý kiến phản hồi của độc giả phản ánh tình trạng bất hợp lý này. Đa số đều bất bình và đặt nghi vấn rằng tại sao trong lúc dầu sôi lửa bỏng và đứng trước thực trạng làm ăn be bét của một số đơn vị trực thuộc EVN thì mức lương thưởng của nhân viên EVN rất cao, cao hơn rất nhiều so với các đơn vị khác và bỏ xa mức thu nhập trung bình của người dân?

Thật khó mà thông cảm khi ông Phạm Lê Thanh, Tổng giám đốc EVN, than rằng ông cảm thấy "đau lòng" khi lương để hạch toán vào giá thành điện của cán bộ công nhân viên và lãnh đạo EVN (bình  quân đầu  người) "chỉ" ở mức... 7,3 triệu đồng/người/tháng. Liệu khi đưa ra con số này, ông Thanh có biết là nó rất phản cảm hay không?

Một điểm đáng lưu ý khác là tỉ lệ thất thoát điện năng đang ở mức rất cao. Chỉ riêng năm 2010, con số này là 10,25%. Đây là một tổn thất không nhỏ cho toàn nền kinh tế nói chung và EVN nói riêng.

Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù được báo chí thường xuyên nhắc tới và yêu cầu làm rõ những sự việc này nhưng người dân vẫn nhận được sự im lặng khó hiểu từ phía những người có trách nhiệm, trong khi chuyện đòi tăng giá thì vẫn được nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Theo ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ Công Thương, thì con số nợ khủng của năm 2010 này sẽ được hạch toán vào giá điện. Tức là bất kể vì lý do gì, lỗ do yếu tố chủ quan hay khách quan, do cơ chế chính sách, do thiên tai hay nhân tai... thì dù thế nào đi nữa, người dân cũng phải gánh chịu.

Vậy câu hỏi được đặt ra là với các khoản lỗ khác thì sao? Ai sẽ là người nhận trách nhiệm? Số tiền thất thoát, thua lỗ do EVN quản lý yếu kém, đầu tư ngoài ngành gây ra sẽ được thu hồi và bằng cách nào? Hay nó lại tiếp tục được đẩy về phía người dân? Nếu cứ theo đà này thì người dân chẳng khác nào phải lãnh đủ gắng nặng do EVN để lại.

Với đa số mọi người, việc tính giá thành hay tăng giá điện - dù được giải thích như thế nào - vẫn cảm thấy có một khoảng nào đó thiếu minh bạch, nếu không muốn nói là rất mù mờ. Trong khi tình hình kinh tế lại đang rất khó khăn, thu nhập người dân đang bị hạn chế lại phải chịu rất nhiều chi phí gia tăng do giá cả tăng và đồng tiền mất giá. Thay vì tự soi xét lại mình, đánh giá xem có hay không chuyện thất thoát, lãng phí, đầu tư cho công tác quản lý để đạt hiệu quả hơn... thì EVN luôn muốn đẩy những khó khăn, yếu kém đó về phía người dân.

Đây là một biểu hiện của sự thiếu sòng phẳng khi EVN là đơn vị độc quyền cung cấp điện và đang sử dụng nguồn lực tài chính, tài nguyện dồi dào của quốc gia, mà thực chất là tiền thuế do nhân dân đóng góp.

Doanh nghiệp FDI bứt phá về nộp thuế

Posted: 21 Nov 2011 03:00 PM PST

19310

9

/2011-11-21-doanh-nghiep-fdi-but-pha-ve-nop-thue

Kinh tế 24h

Tác giả: VNR

Bài đã được xuất bản.: 22/11/2011 06:00 GMT+7

(VEF.VN) - Có khoảng 16,3% doanh nghiệp mới xuất hiện trong Bảng xếp hạng V1000 năm 2011, so với Bảng xếp hạng năm ngoái. Đặc biệt, khối các doanh nghiệp FDI đã có sự bứt phá mạnh mẽ khi phần thuế đóng góp tăng gần gấp đôi.

Ngày 22/11/2011, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với Báo VietNamNet và Tạp chí Thuế (Tổng cục Thuế) tổ chức Lễ Công bố Top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2011.

Đây là năm thứ hai liên tiếp, bảng xếp hạng V1000 (Top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam) được công bố để ghi nhận và tôn vinh các doanh nghiệp có đóng góp về thuế thu nhập lớn nhất trong ba năm liên tiếp (2008-2010) cho ngân sách quốc gia.

Bảng xếp hạng V1000 năm 2011 này có khoảng 16,3% doanh nghiệp mới xuất hiện so với Bảng xếp hạng V1000 năm 2010 và đặc biệt ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ của các doanh nghiệp FDI, khi phần thuế đóng góp của khối này tăng gần gấp đôi (từ 19.842 tỷ VND lên 38.914 tỷ VND). Điều này cũng đã làm tăng tỷ trọng đóng góp thuế của khối FDI lên khoảng hơn 1 điểm phần trăm, từ 23,52% (bảng xếp hạng 2010) lên mức 24.92%.

Mặc dù vẫn còn nhiều bất cập, nhưng dù sao đây cũng là một tín hiệu khả quan đối với khu vực FDI khi thời gian qua các doanh nghiệp này đã có nhiều điều tiếng về việc chuyển giá và báo lỗ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Tôn vinh 1.000 DN nộp thuế nhiều nhất năm 2010 (ảnh VNR)

Bảng Xếp hạng V1000 được xây dựng dựa trên kết quả xử lý và kiểm chứng dữ liệu độc lập của Vietnam Report, với sự phối hợp của Tạp chí Thuế - Tổng cục Thuế cùng hội đồng cố vấn và thẩm định gồm có các chuyên gia tư vấn độc lập cả trong và ngoài nước.

Thông tin và dữ liệu của các doanh nghiệp xếp hạng được tham chiếu từ cơ sở dữ liệu VNR500 - Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam; hệ thống cơ sở dữ liệu hơn 250.000 doanh nghiệp Việt Nam trên toàn quốc của Vietnam Report (VNR Biz Database) và các nguồn dữ liệu độc lập khác, với phương pháp luận tuân thủ theo chuẩn mực quốc tế của các bảng xếp hạng tương tự trên thế giới.

Buổi lễ sẽ có sự tham dự của lãnh đạo một số bộ ngành, lãnh đạo của đại diện 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cùng các chuyên gia tư vấn kinh tế trong và ngoài nước. Đây là dịp để tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong ba năm liên tiếp từ năm 2008 - 2010 cho ngân sách quốc gia.

Trong buổi lễ, các doanh nghiệp sẽ được trao giấy chứng nhận là Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Ba ngành công nghiệp trụ cột dẫn đầu nhập siêu

Posted: 21 Nov 2011 03:00 PM PST

(VEF.VN) - Ba ngành quan trọng, được coi là "xương sống", trụ cột của ngành công nghiệp như thép, điện tử, ôtô lại là những ngành đang nhập siêu nhiều nhất Việt Nam.

Theo Bộ Công Thương, năm 2010 xuất khẩu ngành hàng điện tử đạt 3,15 tỷ USD, nhưng nhập khẩu ngành hàng này đạt hơn 5,141 tỷ USD, nhập siêu 2 tỷ USD.

Năm 2010, ngành ôtô xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD linh kiện, nhưng nhập khẩu tới hơn 1,9 tỷ USD linh kiện và khoảng 1 tỷ USD xe nguyên chiếc. Tính tổng cộng, nhập siêu ngành này khoảng 1,5 tỷ USD kể cả xe nguyên chiếc lẫn linh kiện.

Khủng nhất là ngành thép, năm ngoái nhập khẩu 7 tỷ USD thép và nguyên liệu sản xuất thép, trong khi xuất khẩu chỉ đạt 1tỷ USD. Như vậy trong số gần 13 tỷ USD nhập siêu cả nước năm 2010 thì 3 ngành hàng này đã chiếm gần 10 tỷ USD

Đây là 3 ngành công nghiệp quan trọng. Thép được coi là "bánh mỳ", còn điện tử, ôtô được coi là "xương sống" của các ngành công nghiệp. Với nhiều quốc gia trong khu vực các ngành công nghiệp này có kim ngạch xuất siêu lớn là nguồn thu ngoại tệ chính cho đất nước. Chẳng hạn như Malaysia, mỗi năm xuất khẩu tới 60 tỷ USD linh kiện điện tử và máy tính, chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Trong khi đó tại Việt Nam, ba ngành công nghiệp này lại nhập siêu.

Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân khiến nhập siêu của ba ngành hàng này cao là do thuế nhập khẩu với hàng điện tử từ khu vực AFTA  tiếp tục giảm theo lộ trình, ngoài ra, hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc với giá rẻ đang ồ ạt đổ vào thị trường Việt Nam.

Ôtô xịn vẫn về VN nhiều khiến nhập siêu tăng mạnh (ảnh minh họa)

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn với ngành thép là đầu tư thiếu định hướng, còn với hai ngành điện tử và ôtô là do công nghiệp hỗ trợ trong nước kém phát triển dẫn đến tất cả phải nhập khẩu.

Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cho biết, sản xuất thép của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, chủ yếu là sản xuất thép xây dựng và tập trung cho công đoạn sản xuất ở hạ nguồn, nhập phôi để cán nguội sản phẩm. Vì vậy, số lượng nguyên liệu và sản phẩm thép nhập khẩu vào Việt Nam tăng mạnh theo từng năm. Hiện Việt Nam vẫn phải nhập khoảng 45% phôi và 80% thép phế liệu. Cả nước có tới 32 dự án thép ngoài quy hoạch mà chủ yếu là đầu tư vào cán thép xây dựng, làm cho tổng công suất thép xây dựng lên tới 10 triệu tấn, vượt xa nhu cầu trong nước. Sản xuất thép xây dựng,  năm cao nhất cũng chỉ đạt khoảng 67% tổng công suất.

Trong khi đó, còn rất nhiều sản phẩm thép mà Việt Nam chưa sản xuất được như thép dẹt cán nóng, thép chế tạo, thép hợp kim, thép chất lượng cao... thì hầu như rất ít các dự án đầu tư nên phải nhập khẩu gần như toàn bộ. Chính điều này đã biến thép thành một trong những ngành "ngốn" ngoại tệ nhất hiện nay.

Ngành công nghiệp điện tử  Việt Nam, đến nay chẳng có gì khi 90% linh phụ kiện phải nhập khẩu. Các phụ kiện sản xuất ở trong nước chỉ là hộp carton, xốp chèn, vỏ nhựa, màn hình TV CRT 21inch, sách hướng dẫn... Hầu hết các DN điện tử trong nước và đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đầu tư vào Việt Nam đều không thể tìm thấy các linh phụ kiện có giá trị cao ở thị trường nội địa. Nguồn cung cấp linh kiện điện tử  chủ yếu là nhập khẩu. Các DN chỉ sử dụng được tại Việt Nam là nhân công và đất đai giá rẻ.

Ngành công nghiệp ôtô cũng tương tự, 80% linh kiện phải nhập khẩu, kể cả ốc vít. Việt Nam chỉ sản xuất được những linh kiện giản đơn như khung ghế ngồi, ăng ten, bàn đạp chân phanh, chân ga, dây điện, lò xo, nhíp... có giá trị gia tăng thấp.

Trong 10 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của ngành điện tử và linh kiện máy tính ước đạt 3,15 tỷ USD, song kim ngạch nhập khẩu cũng tăng lên 5,6 tỷ USD, nhập siêu hơn 2,4 tỷ USD, dự kiến cả năm sẽ ở mức 3 tỷ USD. Nhập siêu của ôtô năm nay có giảm xuống nhưng cũng ước đạt khoảng 1 tỷ USD kể cả linh kiện và xe nguyên chiếc. Ngành thép kim ngạch xuất khẩu tăng lên gần 2 tỷ USD và nhập khẩu giảm, nhưng theo Hiệp hội Thép, nhập siêu ước tính cũng ở mức gần 4 tỷ USD.

Thời gian tới, ba ngành công nghiệp này được cho là vẫn giữ mức nhập siêu cao. Với ngành thép, khi kinh tế phát triển, thép bình quân trên đầu người đạt 100 kg, với tỷ lệ 55% là thép tấm, lá thì nhu cầu tăng cao, trong khi trong nước không sản xuất được, chắc chắn sẽ phải nhập khẩu nhiều.

Với ngành đện tử khi thuế nhập khẩu ngày càng giảm, sản phẩm mới ngày càng nhiều và rẻ thì nhập khẩu khẩu cũng tăng. Còn với ngành ôtô, theo dự báo vào 2020 nhu cầu cả nước sẽ là 300.000 xe/năm. Nếu ngành công nghiệp ôtô trong nước không phát triển, không đáp ứng được, theo tính toán mỗi năm sẽ phải bỏ ra cả chục tỷ USD để nhập khẩu ôtô. Như vậy, sẽ khó có thể ngăn chặn nhập siêu từ những ngành công nghiệp quan trọng này.

Quốc gia nào là "trùm" dự trữ vàng thế giới?

Posted: 21 Nov 2011 03:00 PM PST

Trong danh sách 13 quốc gia và hai tổ chức có dự trữ vàng cao nhất thế giới theo báo cáo tháng 11 của Ủy ban Vàng Thế giới, Mỹ đứng đầu bảng với 8.133,5 tấn, theo sau là Đức (3.401,8 tấn), Ý (2.451,8 tấn), Pháp (2.435,4 tấn)... Venezuela xếp cuối danh sách với 365,8 tấn.

Các ngân hàng trung ương đang đóng góp vào nhu cầu vàng thế giới. Các dữ liệu mới nhất từ Hội đồng Vàng Thế giới cho thấy, ngày càng có nhiều thay đổi về dự trữ vàng giữa các quốc gia. Một vài quốc gia trong số đó đang vật lộn trong cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu.

24/7 WallSt. đưa ra danh sách 13 quốc gia và hai tổ chức có dự trữ vàng cao nhất, để xem làm thế nào các quốc gia và tổ chức này có thể ảnh hưởng đến nhu cầu vàng trong tương lai.

Trong khi nhu cầu đầu tư là động lực chính khiến nhu cầu vàng tăng trong quý vừa qua, chính việc các ngân hàng trung ương mua và bán vàng cũng đang là yếu tố chủ đạo ảnh hưởng đến nhu cầu vàng. Hội đồng vàng Thế giới dự kiến nhu cầu của các ngân hàng trung ương sẽ tăng khi khủng hoảng tín dụng của các chính phủ phương Tây thêm trầm trọng. Hội đồng Vàng thế giới cũng dự báo xu hướng dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương sẽ còn tiếp tục trong năm 2012.

Khủng hoảng nợ châu Âu và sự non yếu của các thị trường mới nổi dường như không ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương. Tổng nhu cầu vàng đã tăng 6% trong quý 3 chỉ sau một năm, lên con số 1.053,9 tấn, tương đương 57,7 tỉ USD, con số cao nhất mọi thời đại. Đầu tư là nguyên nhân lớn nhất khiến nhu cầu vàng tăng, trong khi nhu cầu về trang sức rất ít ảnh hưởng.

13. Venezuela: 365,8 tấn

Venezuela tăng dự trữ vàng lên gần 5%. Tổng thống Hugo Chavez dường như không kết bạn với Mỹ, nhưng sản lượng dầu và xu thế quốc hữu hóa doanh nghiệp tiếp tục làm giàu thêm cho chính phủ nước này. Dân số Venezuela chỉ khoảng 27 triệu người và đây là quốc gia Mỹ Latin duy nhất trong số 13 quốc gia trong danh sách này. Theo Hội đồng vàng Thế giới, trong năm 2010, Venezuela đã mua 3,1 tấn vàng, sau khi mua 4,1 tấn tại địa phương trong năm 2009. Venezuela vẫn tiếp tục bổ sung dự trữ vàng.

12. Bồ Đào Nha: 382,5 tấn

Đáng ngạc nhiên, thuộc nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ý, Ireland, Hy Lạp, Tây Ban Nha), Bồ Đào Nha cũng là một "trùm" dự trữ vàng. Quốc gia châu Âu này có dân số xấp xỉ 11 triệu người. Có lẽ người châu Âu nên bắt đầu yêu cầu Bồ Đào Nha cam kết dùng một phần dự trữ vàng để cải thiện tình hình tài chính của mình. Bồ Đào Nha đã tham gia một phần vào Hiệp định Vàng Ngân hàng Trung ương từ trước đó, với vai trò người bán trong những năm gần đây. Do đó, có vẻ hợp lý khi cho rằng quốc gia này sẽ tiếp tục bán vàng để thanh toán nợ và các nghĩa vụ liên quan.

11. Đài Loan: 423,6 tấn

Đài Loan là một bất ngờ khác trong danh sách các quốc gia dự trữ vàng lớn nhất thế giới. Đài Loan có lĩnh vực điện tử lớn, và có thể việc nắm giữ số lượng vàng lớn có thể giúp quốc gia này duy trì nguồn tài chính trong cuộc đối đầu liên tục lâu dài với Trung Quốc. Tính theo đầu người, quốc gia này đã được coi là giàu có hơn nhiều nước láng giềng.

10. Ấn Độ 557,7 tấn


Lượng vàng của Ấn Độ chính thức vẫn chỉ ở mức như hồi đầu năm nhưng dường như lượng vàng mà các ngân hàng trung ương Ấn Độ sẽ tăng. Quốc gia này có 1,2 tỉ dân với nền kinh tế đang phát triển, mặc dù chính phủ Ấn Độ phải ra sức chiến đấu với lạm phát suốt năm 2011. Tích trữ vàng là truyền thống trong văn hóa Ấn Độ và có nhiều khả năngẤn Độ sẽ tiếp tục tích lũy vàng nhiều hơn nữa. Gần 1/3 nhu cầu đồ trang sức của thế giới đến từ Ấn Độ. Đây cũng là nước mua lại 200 tấn vàng từ IMF vào cuối năm 2010. Ấn Độ có vẻ sẽ là nhà tích trữ vàng không chỉ riêng trong năm 2012, mà còn trong nhiều năm tới.

9. Hà Lan: 612,5 tấn

Một quốc gia khá nhỏ với chỉ có 16,6 triệu người nhưng là một trong những trùm dự trữ vàng thế giới là Hà Lan. Quốc gia này thậm chí từng nắm giữ nhiều vàng hơn. Từ năm 2003 đến 2008, Hà Lan cũng là nhà bán theo Hiệp định vàng Ngân hàng Trung ương ở châu Âu. Hà Lan có thể giúp tạo ra một gói cứu trợ của Hà Lan cho các nước "con nợ" thuộc nhóm PIIGS ở châu Âu. Dự trữ vàng của nước này dường như không thay đổi nhiều trong năm 2012.

8. Nhật Bản: 765,2 tấn

Nhật Bản đã phải đương đầu với tình trạng nền kinh tế phát triển chậm chạp trong suốt hai thập kỷ và đồng Yên Nhật hiện được coi là một nơi ẩn náu an toàn cho các nhà đầu tư quốc tế. Người dân Nhật Bản thường giữ tiền mặt trong nhà. Đồng Yên đang tăng giá cùng với mớ nợ tính theo GDP đang ở mức "khủng" và tăng trưởng ở con số 0. Giá hàng hóa Nhật Bản đang trở nên quá đắt đối với người nước ngoài do sức mạnh của Yên. Nhật cũng vẫn đang phục hồi từ sau thảm họa sóng thần và sự cố hạt nhân từ tháng 3/2011. Có lẽ Nhật Bản sẽ chứng minh được mình là một người bán vàng vào năm 2011 thay vì cố gắng để thúc đẩy dự trữ ngoại tệ.

7. Nga: 851,5 tấn

Trong quá khứ, Nga từng ngấu nghiến dự trữ vàng để củng cố đồng rúp trong quá khứ và năm nay tình trạng này lại tái diễn. Nga hiện dự trữ 851,5 tấn vàng, con số này hồi đầu năm là 784,1 tấn. Với trữ lượng dầu và dự trữ hàng hóa lớn, Nga nhắm tới việc tăng ảnh hưởng của mình trên thế giới như một cỗ máy tài chính. Có vẻ Nga sẽ là một nhà mua vàng vào năm 2012.

6. Thụy Sỹ: 1.040,1 tấn

Năm nay, Thụy Sỹ đã có các biện pháp ngăn chặn sự lên giá của đồng franc Thụy Sỹ. Thụy Sỹ đã bán vàng theo Hiệp định vàng Ngân hàng Trung ương từ năm 2003 đến 2008. Với chỉ khoảng 7,6 triệu người, quốc gia này thực sự cần bao nhiêu vàng? Thụy Sỹ có thể dễ dàng làm tăng dự trữ vàng mà không làm ảnh hưởng đến đồng tiền chính thức của mình.

5. Trung Quốc: 1.054,1 tấn


Trung Quốc đã bổ sung nhiều vào dự trữ vàng quốc gia. Không có lí do nào để hy vọng dự trữ vàng này sẽ giảm, đặc biệt khi Trung Quốc đang tìm kiếm một đồng tiền dự trự trong thời gian tới. Trung Quốc có khoảng 1,3 tỉ dân và có nền kinh tế phát triển nhanh. Quốc gia này đang mua thêm hơn 450 tấn vàng từ năm 2003 đến 2009 và trong năm 2010, đã mua hơn 200 tấn vàng.

4. Pháp: 2.435,4 tấn

Pháp không trong tình trạng như Ý và các quốc gia còn lại trong nhóm PIIGS, nhưng để tiên đoán chuyện gì sẽ xảy ra với dự trữ vàng của Pháp là rất khó. Với mức sụt giảm tín nhiệm nợ có thể xảy ra trong thời gian tới, Pháp vẫn là nền tảng lớn thứ hai châu Âu của khu vực đồng Euro và Liên minh châu Âu. Pháp là một thành viên trong Hiệp định Vàng Ngân hàng Trung Ương, đóng vai trò như bên bán vàng và tình trạng tài chính của Pháp cũng đang chao đảo trong khủng hoảng nợ châu Âu. Có thể Pháp sẽ tiếp tục bán vàng, mặc dù quốc gia này cần nhiều tài sản bền vững hơn để dự trữ.

3. Ý: 2.451,8 tấn

Ý là nhà bán vàng trong Hiệp định Vàng Ngân hàng Trung ương nhưng hiện là lại đang mối quan ngại lớn nhất của châu Âu và nhóm PIIGS. Dường như người Ý sẽ bán tháo dự trữ vàng của mình. Quốc gia này vừa có một chính phủ mới và tăng trưởng kinh tế của Ý được dự kiến sẽ bị giới hạn ở tốc độ an toàn nhất. Bán vàng có thể giải quyết một số khoảng trống trong ngân sách của Ý và giải quyết được một số vấn đề kinh tế. Bởi các vấn đề nợ của Ý là khá lớn, có khả năng Ý sẽ là nhà bán vàng vào năm 2012.

2. Đức: 3.401,8 tấn

Đức vẫn là nền tảng của Liên minh châu Âu và khu vực đồng euro. Quốc gia này là nhà bán vàng trong Hiệp định Vàng Ngân hàng trung ương từ năm 2003 đến 2008 nhưng doanh số bán vàng cũng không đủ để giải quyết các vấn đề lớn. Rất khó để xem Đức là nhà mua vàng nhưng cũng không thể coi là đây như nhà bán vàng. Bán vàng quá nhiều có thể tiếp tục gây áp lực khiến đồng euro gặp khó khăn. Tuy nhiên, quỹ cứu trợ đồng euro phải có một nền tảng nào đó và Đức có thể bán bớt một số vàng nữa để đảm trách vai trò này mà không bị đe dọa mất vị trí số 2 trong số các quốc gia nắm giữ dự trữ vàng hàng đầu thế giới.

1. Mỹ:  8.133,5 tấn

Mỹ đã mất đánh giá xếp hạng tín dụng AAA và đã tạo ra một số lượng lớn USD để hỗ trợ các gói cứu trợ và kích thích kinh tế. Mỹ có thể luôn luôn cố gắng bán đỡ một số vàng để chống lại áp lực giá cả hàng hóa trong tương lai, nhưng quốc gia này hiện đã đạt tới đỉnh điểm của khủng hoảng và thâm hụt khiến Mỹ phải tích trữ các tài sản cố định khác để chống lại thác thức khác đối với đống USD như đồng tiền dự trữ số 1 thế giới.

Hai tổ chức dự trữ vàng lớn nhất: IMF và Ngân hàng trung ương Châu Âu

Các số liệu về dự trữ vàng của IMF trong báo cáo tháng 11 của Ủy ban Vàng thế giới đã chỉ ra rằng IMF nắm giữ 2.814 tấn vàng trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu nắm giữ 502,1 tấn, nhiều hơn Đài Loan, ít hơn Ấn Độ.

Câu khách bằng quảng cáo siêu tưởng

Posted: 21 Nov 2011 02:46 PM PST

Sở hữu làn da xỉn màu, chị Hải Anh, nhân viên của một công ty truyền thông luôn cảm thấy mất tự tin. Xem tivi, chị thấy quảng cáo về sản phẩm y như thần dược. Trong đó, một cô gái da sạm đen, sau khi thoa kem dưỡng bỗng trở nên xinh đẹp với da trắng, mịn màng. Clip giới thiệu còn ghi rõ là tác dụng sau 7 ngày sử dụng.

Không có bất cứ loại sản phẩm kem hay sữa rửa mặt nào có tác dụng trị mụn tức thì. Ảnh minh họa.

Ước ao có được khuôn mặt trắng trẻo từ lâu nên chị Hải Anh quyết định mua sản phẩm trong quảng cáo về dùng thử. Nào ngờ cả tháng kiên trì sử dụng đúng như hướng dẫn mà vẫn chẳng cải thiện được chút nào. "Đúng là, quảng cáo cũng chỉ là quảng cáo thôi, người ta bảo: đẹp từ trứng nước, quả chẳng sai", chị Hải Anh nói.

Quỳnh, học sinh lớp 12 trường THPT Thăng Long, Hà Nội còn rơi vào tình cảnh đáng thương hơn từ việc tin vào những quảng cáo phóng đại. Bước vào tuổi dậy thì, da mặt Quỳnh bỗng nổi nhiều mụn. Trong lúc lo lắng, cô gái này xem tivi, thấy quảng cáo về loại kem trị mụn mà chỉ cần bôi một chút là mụn xẹp xuống ngay.

Hứng khởi, Quỳnh mua về dùng. Hai tuần sau, các nốt mụn vẫn còn nguyên, da mặt thậm chí còn hơi đỏ. Cho rằng mình chưa làm đúng cách, Quỳnh tiết kiệm tiền ăn sáng mua cả bộ sản phẩm đó bao gồm cả xịt dưỡng, sữa rửa mặt tạo bọt, kem ban ngày, ban đêm. Nào ngờ, sau cả quá trình, các nốt mụn vẫn kiên quyết ngự trị.

Đến lúc đi khám, cô nữ sinh được bác sỹ tư vấn là làn da đẹp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nội tiết, khí hậu, tinh thần. Nếu chỉ thoa kem mà không uống nhiều nước, ăn đủ chất, bổ sung vitamin thì cô bôi bất kỳ loại kem nào cũng không bao giờ có được làn da láng mịn như diễn viên. Chưa kể, việc Quỳnh tiết kiệm tiền ăn sáng để mua kem còn khiến cơ thể cô không đủ chất dinh dưỡng, làn da vì thế mà xấu đi.

Việc những quảng cáo quá mức so với thực tế khiến không ít người tiêu dùng phàn nàn. Sau lần làm trắng da không thành công, chị Hải Anh mất niềm tin vào sản phẩm và nhãn hiệu đó. "Ai cũng hiểu quảng cáo là phải bắt mắt nhưng quá xa với thực tế, người mua dùng không thấy như giới thiệu thì mất lòng tin lắm", chị Hải Anh nói.

Chị cho biết thêm, hiện nay trên truyền hình đã có rất nhiều clip quảng cáo đề rõ "Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa" hay "Sản phẩm không dùng thay thế cho... thuốc chữa bệnh". Điều đó, lúc đầu có thể khiến giảm sức hút nhưng về lâu dài thì không gây sốc và làm đảo lộn lòng tin của người tiêu dùng.

Trong khi đó, chị Hoàng Vy, sống ở Thái Thịnh, Hà Nội lại thích thú khi nhờ quảng cáo với những kết quả phóng đại mà cậu con trai 5 tuổi của chịu uống sữa. Bình thường con chị rất ghét uống sữa, nhưng từ khi cháu xem đoạn quảng cáo cậu bé uống sữa xong biến thành siêu nhân thì mọi chuyện thay đổi. "Tôi chẳng cần dỗ dành, cứ nói uống để lớn như siêu nhân nào là cháu uống ngay", chị Vy nói.

Chị Hương Ly, chuyên kinh doanh mặt hàng thực phẩm cho rằng đã là quảng cáo thì doanh nghiệp luôn tìm những mỹ từ để gắn vào hàng hóa đó để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. "Tuy nhiên, trên thực tế, không có bất cứ loại đồ ăn, thức uống hay loại mỹ phẩm nào hôm nay dùng, ngày mai có tác dụng mà cần có thời gian", chị Ly nói.

Vì thế, khi tư vấn cho khách, chị Ly bao giờ cũng khuyến cáo nên dùng sản phẩm đều đặn, kết hợp với luyện tập thể thao. Bởi một cơ thể khỏe mạnh cần được thường xuyên luyện tập chứ không có bất cứ một loại đồ ăn thức uống nào có thể thay thế được. "Bên cạnh đó, một làn da đẹp cũng cần được nuôi dưỡng từ bên trong chứ không xuất phát từ bên ngoài", chị Hương Ly nhấn mạnh.

Trong khi đó, những đề của quảng cáo cũng rất nóng tại Quốc hội, nhất là khi thảo luận về dự thảo Luật Quảng cáo. Cũng bởi những tác động nhiều chiều đến người xem mà đại biểu Quốc hội đã đề nghị đưa quy định mới về quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận quảng cáo. Theo đó, người tiếp nhận quảng cáo được quyền bồi thường thiệt hại do quảng cáo gây ra.

Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng thực tế, người tiêu dùng rất khó xác định được thiệt hại mà mình gặp phải. Chưa kể, để đòi được tiền bồi thường, khách hàng phải làm rất nhiều thủ tục, trình tự để thẩm định độ thiệt hại nên quy định này rất khó thực thi.

Bên cạnh đó, nhiều đại biểu cũng băn khoăn về quy định bổ sung "cấm quảng cáo gây nhầm lẫn cho công chúng". Một đại biểu Quốc hội cho rằng, hiện nay, nhiều người tiêu dùng bị nhầm lẫn giữa thực phẩm chức năng với thuốc chữa bệnh. Điều này dẫn đến hiệu quả khi dùng sản phẩm, bệnh trầm trọng thêm, gây thiệt hại về sức khỏe một cách gián tiếp.

Một số đại biểu khác cũng cho rằng rất nhiều sản phẩm vừa quảng cáo hôm trước với các từ hoa mỹ thậm chí là nâng tầm giá trị lên mức siêu nhiên. Thế nhưng, hôm sau, cơ quan chức năng lại phát hiện sai phạm vì sản phẩm gian dối hoặc là hàng kém chất lượng. Do vậy, việc hậu kiểm đối với cơ quan quản lý là cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng.

Hồng Anh - Xuân Ngọc

Tủi thân khi biết 'lương EVN chỉ có 7,3 triệu đồng'

Posted: 21 Nov 2011 01:27 PM PST

Sau khi VnExpress.net đăng tải bài viết "Sếp EVN đau lòng vì lương nhân viên 7,3 triệu đồng", hàng nghìn độc giả gửi ý kiến phản hồi. Rất nhiều người thuộc các ngành nghề khác nhau như kỹ sư, bác sĩ, giáo viên... "choáng" vì mức lương trung bình của ngành điện vào năm 2009 đã lên tới 7,3 triệu đồng, gấp 3-4 lần nhiều lĩnh vực khác.

Là giảng viên một trường đại học, độc giả Lê Thành chia sẻ, bản thân anh cũng mơ ước mức lương mà "sếp EVN phải đau lòng" bởi làm 10 năm lương chỉ có 3,1 triệu đồng mỗi tháng. "Với mức lương như thế, liệu ai có thể dành toàn bộ thời gian của mình cho công tác giảng dạy, hay họ phải bươn trải để kiếm tiền nuôi con ăn học?" và bạn đọc này bổ sung thêm: "Sau khi nghe phát biểu của sếp EVN, các quan chức cấp cao ngành khác có thấy thương xót cho ngành của mình không?".

Ảnh: Hoàng Lan
Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam - Phạm Lê Thanh. Ảnh: Hoàng Lan.

Đồng tình với quan điểm trên, độc giả Nguyễn Thị Mỹ Dung bộc bạch, lương dược sĩ đại học chưa tới 5 triệu, nhân viên công ty nước ngoài ngành dược chưa tới 6 triệu, lương công nhân chưa tới 3 triệu đồng mỗi tháng. "Trong khi đó lương 7,3 triệu là không đủ sống. Vậy những công nhân làm với mức lương đó làm sao họ sống được, không lẽ họ chết ?", chị Dung tâm tư.

Số đông đọc giả cho cho rằng, thời điểm năm 2009, khi giá cả chưa leo thang như hiện nay, thì mức lương 7,3 triệu là đáng mơ ước. Không ít người là công chức nhà nước chỉ có lương trên dưới 2 triệu đồng. Cán bộ tòa án vào nghề được 5- 10 năm, tính cả phụ cấp mới lên tới 3,19 triệu đồng. Còn bác sĩ, ra trường 10-25 năm có bằng thạc sĩ nhưng tổng thu nhập gồm lương và phụ cấp ngành, tiền trực... cũng chỉ khoảng 4- 5 triệu đồng. Không ít trường hợp tốt nghiệp loại giỏi, làm cho công ty vận tải quốc tế cũng chỉ trên dưới 5 triệu đồng mỗi tháng.

Nhiều bạn đọc ở thành thị thừa nhận mức lượng của họ dù thấp, chỉ bằng trên dưới một nửa nhà đèn nhưng "vẫn đủ nuôi vợ con và mẹ già ở thành thị". Do đó, số đông độc giả cho rằng, ngành điện cần tự xem và chỉnh đốn lại mình bởi so với mặt bằng chung của xã hội, đến nay, nhiều ngành vẫn không bắt kịp lương nhà đèn vào năm 2009.

"Một cán bộ cấp vụ sống ở Hà Nội, công tác gần 40 năm trong ngành, phấn đấu liên tục không mệt mỏi và có đủ các bằng cấp theo đúng chuẩn cấp vụ của Nhà nước quy định, mà mỗi tháng hiện thu nhập chưa được 6 triệu đồng", độc giả Trần Tiến Dũng chia sẻ.

Thậm chí bạn đọc Nguyễn Đoàn còn xin "cho tôi vô ngành điện với" và cam đoan "sẽ làm được những việc công nhân ngành điện đang làm". Độc giả này sẵn sàng chấp nhận chịu thiệt, chỉ xin lương 6 triệu một tháng, thấp hơn mức lương 1,3 triệu đồng của nhà đèn cách đây 2 năm.

Độc giả Nguyên Kiệt cũng có ý định viết đơn xin gia nhập ngành điện và chấp nhận "sống khổ" như nhân viên EVN. Thậm chí độc giả này còn hài hước, khi nhà đèn tuyển người, chỉ cần thông báo rộng rãi chắc chắc sẽ "không đủ chỗ mà nhận hết vì sếp sẽ không cam tâm nhìn thêm cả trăm con người phải chịu mức lương thấp".

Tuy nhiên, việc cùng lúc thông báo khoản lỗ hàng chục nghìn tỷ đồng và công khai mức lương của ngành điện nhiều bạn đọc bức xúc. Bạn đọc tên Dũng thắc mắc, EVN kêu lương nhân viên thấp, lỗ hàng nghìn tỷ đồng, vậy nguồn vốn ở đâu để đầu tư vào mảng viễn thông, bất động sản, ngân hàng? Trong khi lượng vốn đầu tư đó đổ vào đầu tư vào các dự án điện có thể sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nhiều việc kinh doanh thua lỗ của EVN Telecom.

Anh Dũng lo ngại khoản lỗ nặng nề và việc than mức lương của EVN thấp là việc dọn đường cho tăng giá điện. Nghịch lý ở chỗ, ngành điện độc quyền lấy vốn nhà nước để mở rộng các ngành nghề khác ngoài lĩnh vực của mình rồi kinh doanh thua lỗ lại đòi tăng giá. "Nếu cứ tăng giá điện để bù lỗ cho việc tăng lương cho nhân viên ngành điện, cho các dự án thua lỗ khác ngoài ngành thì có lẽ giá điện sẽ tăng mãi không ngừng", anh Dũng lo lắng.

Trong khi nhiều người không đồng tình với phát ngôn của EVN thì một số ít độc giả tỏ ra thông cảm. Độc giả Minh Anh cho rằng, người đọc không nên quá khắt khe, bởi phát ngôn của ông Thanh đứng trên góc độ một người lãnh đạo của ngành. Lãnh đạo phải dám đặt mục tiêu và không thể vì nhìn mức sống ở những nơi khác, ngành khác thấp hơn mà phải chấp nhận "ừ thôi, như thế là mình cũng tốt lắm rồi".

"Rất có thể mục tiêu của EVN đặt ra về thu nhập bình quân của họ mong muốn là cao hơn, nhưng khi không đạt được thì với vai trò một người lãnh đạo, một người quản lý sẽ cảm thấy buồn", Minh Anh nói.

Theo độc giả này, việc so sánh tương quan mức sống, mức thu nhập của toàn xã hội thì đó là trách nhiệm của các lãnh đạo cấp Nhà nước. Do đó, độc giả Minh Anh nhấn mạnh mỗi người hãy đặt mục tiêu và làm tốt vai trò, chức trách của mình, trong phạm vi của mình trước đã.

Đồng tình với quan điểm trên, bạn đọc với nick Vicem cho rằng mức lương 7,3 triệu là chưa đủ sống. Do đó, doanh nghiệp lo được cho nhân viên mức lương ấy nên được động viên. Tiêu chí "nguồn lao động giá rẻ" là lợi thế cạnh tranh quốc gia dẫn đến nhiều doanh trả lương thấp. "Cá nhân tôi, tôi muốn sống được bằng chính đồng lương của mình, chuyên tâm vào công việc của mình, toàn tâm toàn ý cho công việc. Vì mình biết, mình không phải lo từng bữa ăn", độc giả Vichem bộc bạch.

Ngày 19/11, Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam - Phạm Lê Thanh cho hay, lương bình quân năm 2009 của ngành điện là 7,3 triệu đồng một tháng và chia sẻ "rất đau lòng khi thấy lương nhân viên chỉ có ngần đó". Theo lãnh đạo nhà đèn, đây là mức tương đối thấp, nếu ở nông thôn thì ổn, còn ở thành thị thì không thể sống được.

Hoàng Lan

CPI tháng 11 tại TP.HCM, Hà Nội tăng nhẹ

Posted: 21 Nov 2011 03:05 PM PST

Tác nhân lớn nhất khiến CPI tăng trở lại sau khi xuống mức thấp nhất trong tháng 10 là giá các mặt hàng lương thực tăng đột biến (4,56%) khiến nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống được đẩy lên khá cao 0,81%. Trong khi mặt hàng thực phẩm giảm nhẹ (0,07%). Riêng ba nhóm hàng có mức giá giảm so với tháng trước là nhà ở, điện, nước và chất đốt giảm 0,36%, bưu chính viễn thông giảm 0,21% và văn hóa vui chơi giải trí giảm 0,5%.

Cùng ngày, Cục Thống kê Hà Nội cũng đã công bố CPI tháng 11, tăng 0,29% so với tháng trước. Có bốn nhóm hàng có mức giá tăng là may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,75%; giáo dục tăng 0,44%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,74%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng cao nhất (0,88%).

TRÀ PHƯƠNG – PX

Hưởng ưu đãi, lo bị kiện

Posted: 21 Nov 2011 03:05 PM PST

Cần sớm rà soát lại các biện pháp ưu đãi đầu tư, ưu đãi sản xuất… Nếu không, chính các ưu đãi này có thể khiến DN bị kiện chống trợ cấp khi xuất hàng đi nước ngoài.

Thép Việt Nam chính thức bị Mỹ điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp. Chống bán phá giá không còn là chuyện mới lạ gì. Tuy nhiên, đây là lần thứ hai sản phẩm Việt Nam bị kiện chống trợ cấp. Lần trước đó, túi nylon của Việt Nam xuất sang Mỹ cũng bị kiện "kép", vừa bị kiện chống bán phá giá vừa bị kiện chống trợ cấp và đã bị áp thuế.

Nhiều ưu đãi

Trong lần kiện này, các DN thép Mỹ (bên nguyên đơn khởi kiện) đã liệt kê 10 DN Việt Nam, trong đó có Công ty TNHH Ống thép Việt Nam, Hữu Liên Á Châu, Hòa Phát, Tập đoàn Hoa Sen, Việt Đức, Hyundai - Huy Hoàng…

Bên nguyên đơn cũng liệt kê 17 loại ưu đãi, hỗ trợ mà họ cho là "trợ cấp" mà sản phẩm thép Việt Nam đang hưởng. Cụ thể như nhà xuất khẩu được cho vay ưu đãi; ngành thép được vay ưu đãi; DN được miễn và giảm tiền thuê đất; các DN trong khu công nghiệp hoặc ở nhiều lĩnh vực được ưu đãi về đất; DN ở các khu công nghiệp được cung cấp nước với giá thấp hơn giá bù đắp chi phí. Ngoài ra, nguyên đơn còn cho rằng DN thép còn được thưởng dưới dạng các chương trình xúc tiến xuất khẩu, chương trình phát triển sản phẩm mới. Đặc biệt, nguyên đơn cũng liệt kê một số chương trình thuế mà họ cho là "trợ cấp" như miễn thuế đối với nguyên liệu thô nhập khẩu nhằm sản xuất hàng xuất khẩu; ưu đãi thuế thu nhập cho DN có vốn đầu tư nước ngoài; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu nhằm tạo tài sản cố định…

Sản xuất thép tại một nhà máy. Ảnh: CTV

Luật sư Ngô Quang Thụy, Giám đốc Công ty Luật NT Trade Law, đã chủ động tư vấn sơ bộ với Hiệp hội Thép Việt Nam về hướng giải quyết vụ kiện thép. Ông Thụy cho biết trong số 10 công ty trên, có những công ty không trực tiếp xuất hàng sang Mỹ. Tuy nhiên, trong các vụ kiện, nguyên đơn có thể liệt kê tên nhiều DN vào, việc họ liệt kê DN nào, bao nhiêu DN cũng chưa quan trọng. Vấn đề quan trọng là giai đoạn sắp tới đây, khi có số liệu nhập khẩu thép trong tay, Mỹ sẽ chính thức chọn ra 2-3 công ty điển hình để điều tra chi tiết hơn.

Chứng minh từng khoản

Về 17 loại ưu đãi mà DN Mỹ đưa ra, ông Thụy cho rằng các nội dung này tương tự như nội dung của vụ kiện túi nylon trước đó. Trong vụ túi nylon bị kiện, DN ta đã thua, tuy nhiên có lý do là DN bỏ cuộc giữa chừng. Vì vậy, với nội dung kiện tương tự, nếu lần này ta phản biện thì kết quả tốt hơn.

Ông Thụy cho biết trong số 17 "món" mà DN Mỹ liệt kê, ta cần chứng minh từng "món" một không mang tính trợ cấp hoặc tuy là trợ cấp nhưng được phép dùng chứ không bị cấm.

Ông Trần Hào Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho rằng trong vụ thép bị kiện chống trợ cấp, DN thép có thể chứng minh các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của ta là trợ cấp chung chứ không chỉ cho riêng một ngành nghề, một lĩnh vực nào cả, cũng không nhằm hỗ trợ xuất khẩu, không nhằm khuyến khích tiêu thụ nội địa. Do đó mà được phép dùng chứ không bị cấm.

Ông Hùng cũng cho biết từ nhiều năm trước, trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, chúng ta đã chủ động rà soát quy định, chính sách xem cái nào không phù hợp thì chỉnh sửa. Cho nên những quy định, chính sách hiện nay của ta đang áp dụng đều đã phù hợp với cam kết gia nhập. Các ưu đãi, hỗ trợ về cơ bản là hoàn thiện, phù hợp cam kết WTO.

Tuy nhiên, nếu ta không chứng minh được một "món" nào trong danh sách trên không phải là trợ cấp bị cấm thì sao? Ông Thụy cho biết giá trị trợ cấp sẽ bị tính để áp thuế cho hàng nhập khẩu. Khi ấy, DN sẽ gặp bất lợi khi xuất hàng vào các nước.

Có ba loại trợ cấp:

Trợ cấp đèn đỏ bị cấm: Thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu, trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu.

Trợ cấp đèn xanh không bị khiếu kiện: Trợ cấp không cá biệt (không hướng tới một (một nhóm) DN/ngành/khu vực địa lý nào); trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu; trợ cấp cho các khu vực khó khăn…

Trợ cấp đèn vàng không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện: Trợ cấp có tính cá biệt.

Có thể thành tiền lệ

Vụ kiện chống trợ cấp với thép có thể trở thành tiền lệ cho nhiều vụ kiện khác sau này. Trước mắt, lần này kiện chỉ đối với ống thép mà ta xử lý không tốt thì sau đó thép tấm, thép cuộn, thép mạ kim loại, mắc áo bằng thép… có thể bị kiện tương tự. Rồi những sản phẩm khác không phải thép nhưng hưởng ưu đãi, hỗ trợ cũng có thể bị kiện.

Luật sư NGÔ QUANG THỤY
Giám đốc Công ty Luật NT Trade Law

QUỲNH NHƯ

Lãi suất sẽ giảm nếu lạm phát tháng 11-12 dưới 1%

Posted: 21 Nov 2011 07:02 AM PST

The request cannot be processed because the Web site is shutting down.

Please try the following:

  • Click the Refresh button, or try again later.
  • If this error persists, contact the Web site administrator to inform them that this error continues to occur for this URL address.

Technical Information (for support personnel)

  • Go to Microsoft Product Support Services and perform a title search for the words HTTP and 500.
  • Open IIS Help, which is accessible in IIS Manager (inetmgr), and search for topics titled Restarting IIS, Web Site Administration, and About Custom Error Messages.

Vàng Bảo Tín Minh Châu và AAA tiếp tục hạ giá

Posted: 21 Nov 2011 03:05 PM PST

Lúc 18 giờ, giá vàng SJC mua vào 45,6 triệu đồng/lượng, bán ra 45,8 triệu đồng/lượng. vàng Bảo Tín Minh Châu tiếp tục hạ giá, mua vào 44,65 triệu đồng/lượng, bán ra 44,85 triệu đồng/lượng. vàng AAA cũng giảm, mua vào 44,7 triệu đồng/lượng, bán ra 45,1 triệu đồng/lượng.

Theo một chủ tiệm vàng ở TP.HCM, do tâm lý về dự thảo quản lý vàng đang được trình Chính phủ sẽ hạn chế kinh doanh vàng nên mới có tình trạng hạ giá như vậy.

YT

Phải cập nhật thường xuyên số dư tiền gửi

Posted: 21 Nov 2011 03:05 PM PST

NHNN cũng yêu cầu các chi nhánh thông báo kịp thời cho những tổ chức tín dụng nào có nguy cơ thiếu hụt vốn trong thanh toán để có biện pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, các tổ chức chuyển mạch thẻ cần đảm bảo để việc chuyển mạch thẻ được thông suốt, hạn chế các lệnh có sai sót, gây ắch tắc, chậm trễ trong thanh toán…

YÊN TRANG

Trầm cảm vì chính sách

Posted: 21 Nov 2011 03:05 PM PST

Theo ông Toản, có nhiều lý do để trầm cảm. Một là DN không nắm vững quy định. Ví dụ, thay vì ghi tên thương mại của sản phẩm theo quy tắc chung thì DN lại ghi tên mà DN thường gọi; thay vì phải ghi số lượng chai, lọ, thỏi cụ thể của một lô hàng mỹ phẩm thì DN chỉ ghi số lượng thùng (một thùng có rất nhiều chai, thỏi)! Vì vậy mà DN bị trả hồ sơ, bị mất thời gian, mang cảm giác bị hải quan "hành". Nặng hơn, việc mất thời gian cũng làm DN tốn thêm chi phí, bị lỡ hợp đồng… Vì vậy mà dễ trầm cảm lắm!

Ông Toản cho biết hiện nay khi DN điền sai thông tin, làm chưa đúng thủ tục thì có nhân viên hải quan trả hồ sơ, nhắc và hướng dẫn làm lại. Thế nhưng sắp tới đây khi triển khai hải quan một cửa quốc gia, DN sẽ làm việc với phần mềm, với máy tính, với hệ thống điện tử. DN sẽ không gặp một công chức hải quan nào để mà nhờ hướng dẫn. Ông Toản khẳng định "phải thông thạo, nắm vững quy định mới làm được thủ tục nhanh chóng, không thì bị trầm cảm hơn".

Thế nhưng DN nắm vững thủ tục hiện hành vẫn có thể bị trầm cảm như thường. Ông Toản cho rằng nhiều DN không cập nhật quy định mới, chính sách mới. Ví dụ như mức thuế mới, giấy phép mới, cửa khẩu mới… Đến khi nhập hàng về đến cửa khẩu, thông quan không được thuận lợi, đâm ra trầm cảm.

Làm gì để khỏi trầm cảm? Đương nhiên là cần nắm vững quy định, chính sách chứ sao!

Thế nhưng Cục phó Cục Hải quan, ông Nguyễn Trọng Hùng, lại cho biết hiện nay quy định về xuất nhập khẩu là "một rừng văn bản" và "hải quan cũng không biết hết".

Ông ví dụ một mặt hàng nhập khẩu bị quy định về thủ tục hải quan chi phối, rồi còn phải tuân thủ quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, liên quan đến Bộ Y tế, rồi còn tuân thủ quy định về chất lượng hàng hóa, liên quan đến Bộ Khoa học và Công nghệ, rồi còn liên quan đến quy tắc xuất xứ, dính với Bộ Công Thương… Thậm chí có những trường hợp "bất ngờ" ngay cả công chức hải quan cũng không biết, ví dụ như nhập mặt hàng váng sữa, nghĩ là có chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm là đủ rồi, ai ngờ lại còn phải có giấy kiểm dịch nữa. Ông Hùng khẳng định có khoảng 70% hàng nhập khẩu bị điều chỉnh bởi một chính sách nào đó mà DN không biết.

QUỲNH NHƯ

108 tấn chân gà thối đã về Quảng Ninh

Posted: 21 Nov 2011 03:10 AM PST

Hơn 100 tấn chân gà đông lạnh do Công ty TNHH Chế biến thủy sản xuất khẩu Quảng Ninh nhập về qua cảng Hải Phòng đã được cơ quan thú ý vùng II giám định là có hiện tượng phân hủy, không đủ yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong khi cơ quan này yêu cầu làm rõ để tái xuất hoặc tiêu hủy thì lô hàng trên vẫn được vận chuyển về Móng Cái, Quảng Ninh.

108 tấn chân gà thối đã được xuất ra khỏi cảng Hải Phòng.
108 tấn chân gà thối đã được xuất ra khỏi cảng Hải Phòng.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Trần Văn Hội, Phó cục trưởng Cục hải quan Hải Phòng cho biết hải quan Móng Cái, Quảng Ninh là nơi mở tờ khai có xác nhận thông quan số hàng này trên hồ sơ. Lực lượng giám sát cảng của hải quan Hải Phòng căn cứ theo đó cho hàng về Quảng Ninh là đúng quy trình nghiệp vụ.

"Hải quan Quảng Ninh mở tờ khai và chịu trách nhiệm về hồ sơ, chúng tôi chỉ chịu trách nhiệm giám sát hàng đó ở cảng. Khi có hồ sơ và lệnh xác nhận thông quan thì cho xuất khỏi cảng là điều bình thường", ông Hội nói.

Một lãnh đạo của phòng Quản lý giám sát, Hải quan Hải Phòng xác nhận hiện nay, 108 tấn chân gà thối đã được chuyển ra Quảng Ninh. Nguồn tin này cho biết, theo quy trình thủ tục hải quan về hàng gia công, nơi làm thủ tục mở tờ khai và ký quyết định thông quan là nơi có trụ sở của doanh nghiệp. Trong trường hợp này là Hải quan Móng Cái, Quảng Ninh.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã chỉ đạo thanh tra Bộ tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành làm rõ vụ việc này.

Xuân Ngọc

Ý kiến của bạn

Các tập đoàn 'rót' hơn 10.000 tỷ vào nhà băng

Posted: 21 Nov 2011 01:31 AM PST

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư 3.576 tỷ đồng vào chứng khoán, 2.236 tỷ đồng vào lĩnh vực bảo hiểm, 5.379 tỷ đồng vào bất động sản, vào quỹ đầu tư 495 tỷ đồng; riêng lĩnh vực ngân hàng vượt trội với 10.128 tỷ đồng.

Đây là những con số tại báo cáo của Bộ Tài chính vừa được Văn phòng Quốc hội tập hợp gửi đến các vị đại biểu Quốc hội chiều 20/11.

Bên cạnh con số đến cuối năm 2010, số liệu từ 2006 - 2009 về đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính cũng được nêu tại báo cáo.

Theo đó, các con số lần lượt các năm đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán là 707 tỷ đồng, 1.328 tỷ đồng, 1.697 tỷ đồng và 986 tỷ đồng. Đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm từ 2006 - 2009 là 758 tỷ đồng, 2.655 tỷ đồng, 3.007 tỷ đồng và 1.578 tỷ đồng.

Với quỹ đầu tư, các con số đầu tư lần lượt là 600 tỷ đồng, 1.050 tỷ đồng, 1.424 tỷ đồng và 694 tỷ đồng.

Và lớn hơn cả vẫn là các con số đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng với 3.838 tỷ đồng của năm 2006, năm 2007 đã là 7.977 tỷ đồng, 11.427 tỷ đồng là con số của 2008 và 2009 là 8.734 tỷ đồng.

Tại báo cáo, Bộ Tài chính cho biết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã cơ cấu để giảm dần tỷ lệ vốn góp vào các lĩnh vực nêu trên. Tuy nhiên việc thoái vốn ở những lĩnh vực này chưa hoàn thành được mục tiêu đề ra của Chính phủ. Nguyên nhân là do kinh tế thế giới và trong nước suy giảm.

Báo cáo cho biết, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước làm chủ sở hữu vào cuối năm 2011. Theo đó quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp, việc huy động vốn, đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, việc phân phối thu nhập...

Trong thời gian qua, hiệu quả hoạt động, trong đó có đầu tư trái ngành của tập đoàn, tổng công ty nhà nước luôn là vấn đề được đặt ra tại nhiều kỳ họp Quốc hội.

Ở báo cáo gửi đến Quốc hội vào cuối năm 2010, Chính phủ cho biết số tiền tham gia góp vốn vào ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản... khá lớn, song không hiệu quả trong ngắn hạn. Và đặc biệt là "chưa thực sự hợp lý khi nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính còn hạn chế".

Báo cáo trước Quốc hội về các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế tại phiên khai mạc kỳ họp thứ hai, Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ quyết tâm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chỉ tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính. Kiên quyết thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không cần chi phối và thoái vốn đã đầu tư vào các hoạt động ngoài ngành kinh doanh chính và có phương án sắp xếp, kiện toàn các doanh nghiệp thua lỗ.

Cũng liên quan đến hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp này, tập hợp kiến nghị của nhiều chuyên gia kinh tế từ một hội thảo về kinh tế vĩ mô được Ủy ban Kinh tế gửi đến các đại biểu Quốc hội cũng đã đưa ra thông điệp mạnh mẽ về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước.

Đó là, với nguồn lực đang ngày càng trở nên hạn hẹp và đắt đỏ, các doanh nghiệp nhà nước chỉ được phép tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính, không phân tán nguồn lực đầu tư ngoài ngành, nhất các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán vốn chứa đựng nhiều rủi ro.

Trong năm 2012 cần xây dựng kế hoạch thoái vốn và tiến tới chấm dứt kinh doanh các ngành nghề ngoài ngành nghề kinh doanh chính tại các tập đoàn và tổng công ty lớn của nhà nước, bản kiến nghị nêu rõ.

Đêm hỗn loạn chờ mua hàng giảm giá

Posted: 21 Nov 2011 01:17 AM PST

Tác giả: PV. (Tổng hợp)

Hàng ngàn lượt người từ khắp mới đổ xô đến siêu thị Big C Thăng Long (đường Trần Duy Hưng - HN) từ 22h đêm 20/11 chờ mua hàng giảm giá, gây nên một cảnh tượng chen lấn xô đẩy chưa từng có. Điều đó khiến nhiều người tiêu dùng khó chịu.

Theo thông báo từ siêu thị, từ 0h ngày 20/11 đến 8h này 20/11 siêu thị sẽ áp dụng giảm giá cho nhiều mặt hàng, có mặt hàng sẽ giảm giá đến 50%. Vì trùng vào ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật nên chương trình trên được nhiều người dân hưởng ứng nhiệt liệt.

Chẳng hạn, từ 0 - 1h ngày 20/11, khách mua hàng sẽ được giảm 10% đối với rau củ quả, cá; giảm 20% với bánh mì. Từ 1 - 2h, mặt hàng quần jean nữ các loại sẽ giảm giá 20%, đồ chơi giảm 15%. Từ 2 - 3h, giảm 20% với các sản phẩm mang nhãn hiệu của Big C cùng các mặt hàng quần Jean nam. 3 - 4h sẽ giảm 10% với các mặt hàng tivi, trang phục lót; còn mì trứng, nui, chảo 1 quai sẽ giảm 10% lúc 4 - 5h sáng. Từ 5 - 6h, điện gia dụng được giảm 10%, quần áo cho trẻ sơ sinh giảm 20%. Quần áo trẻ em và khăn các loại giảm từ 15 - 20% khi mua hàng lúc 6 - 7h sáng. Đến 7 - 8h sáng, nếu mua ba lô, giày dép các loại sẽ được giảm 15 - 20%.

Ngoài ra, Big C còn đưa ra một số sản phẩm khuyến mãi từ 0 - 8h ngày 20/11 nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam, như mua 3 hộp quà dầu gội, sữa tắm tặng túi xách; mua áo sơ mi nam tặng kèm cà vạt.

Người tiêu dùng đến Big C chỉ mua được bánh mì... (ảnh Lao Động)

Theo báo Lao Động, đến 00h mới là giờ áp dụng giá khuyến mại, nhưng nhiều người dân đã tới lấy đồ từ chiều và đợi giờ vàng để được giảm giá.

Từ 22h đêm, bãi giữ xe của siêu thị đã kẹt cứng, các lối vào siêu thị đều nghẹt người, ai cũng nhanh chóng chen chân lấy xe đẩy hòng đựng được nhiều hàng. Nhiều gia đình đánh cả ô tô riêng đi để chứa đồ.

Chen lấn, xô đẩy, hỗn loạn... là không khí trước lối vào cửa Big C từ 23h. Hai cầu thang cuốn tắc nghẽn bởi dòng người vào mỗi lúc một đông. Nhân viên bảo vệ đã có lúc phải hạn chế người vào bằng cách đóng cửa, chặn không cho thêm khách lên tầng 2.

Tuy nhiên, vì không nắm rõ được chương trình khuyến mãi chỉ với một số mặt hàng giảm giá, theo từng khung giờ, nên người vào thì đông, hàng hóa nhiều mặt hàng vẫn giảm giá không đáng kể, nên người mua sắm vô cùng bức xúc, nhiều mâu thuẫn đã xảy ra giữa khách hàng và nhân viên Big C.

1h30 sáng 20/11, bác Hoàng Văn Chiến cùng vợ là Nguyễn Thị Minh đi xe máy từ Quốc Oai - HN lên Big C từ 9h tối than thở: "Tôi nghe hôm nay có giảm giá ti vi, từ trên 5 triệu xuống còn hơn 1 triệu thì có gắng thức đêm hôm để đi. Ai ngờ, tới đây, chả thấy ti vi đâu. Chen lấn không thở được. Mất công đi, vợ tôi đang chen nhau để mua... bánh mì!"

Một nhóm sinh viên Đại học Công Đoàn lặn lội rủ nhau lên Big C đành ngồi bó gối ngoài cửa, chờ vãn hết người rồi lấy xe về. "Bọn mình tưởng giảm giá nhiều, tính đi mua nồi cơm điện, tủ lạnh, ai ngờ đông như nêm, mà giảm giá mấy thứ hàng quần áo rất xấu, mua làm gì?"

Nhiều người trung tuổi thức đêm cùng con cháu đến Big C ra về với bộ mặt thiểu não, chán chường, không ít người ca thán về chiến dịch truyền thông của Big C không rõ ràng, đẩy người tiêu dùng vào cảnh chen lấn và... về không trong mệt mỏi, thất vọng!

Thực tế, theo Đất Việt, chợ đêm với người Việt không lạ, nhưng bán hàng suốt đêm với siêu thị là hình thức mới mà BigC đã cố gắng thực hiện. Tuy nhiên, để mua được món hàng giảm giá không "nặng ký" mà phải chờ đến giữa đêm thì chẳng người tiêu dùng nào hứng thú. Thông thường, các siêu thị đóng cửa sau 10h30, nên đây là thời gian những người bận rộn được mua sắm.

Tuy nhiên, số khách này không nhiều, và cũng chỉ ở một số người trẻ. Còn những bà nội trợ thực sự thì không thể chờ đến 0 - 1h để mua cá, bánh mì, rau củ quả để được giảm giá 10%. Cũng không ai 3 - 4h sáng đi mua ti vi, hay 5 - 6h sáng mua đồ điện gia dụng để mong giảm 10% giá trị sản phẩm giữa lúc các cửa hàng điện máy đưa ra mức giảm khủng nhưng cũng khó kéo được khách hàng.

Chứng khoán bị bỏ quên

Posted: 20 Nov 2011 08:00 PM PST

Chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn để phát triển nền kinh tế. Vì vậy, không thể gạt nó ra nếu chúng ta thực sự muốn tái cấu trúc nền kinh tế - TS. Lê Đạt Chí

Câu chuyện tái cấu trúc nền kinh tế đang là vấn đề được quan tâm, thảo luận nhiều nhất. Một số lĩnh vực đã bắt tay vào xây dựng đề án tái cấu trúc. Nhưng một kênh không thể thiếu trong vai trò dẫn vốn phục vụ sự phát triển nền kinh tế là thị trường chứng khoán (TTCK) lại không hề được nhắc đến trong tổng thể bức tranh tái cấu trúc nóng bỏng hiện nay.

Tiến sĩ Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Tài chính, Đại học Kinh tế TP.HCM đã trả lời phỏng vấn xung quanh vấn đề này

- Theo ông, vì sao TTCK lại bị gạt ra ngoài câu chuyện tái cấu trúc đang nóng bỏng hiện nay?

TS. Lê Đạt Chí: Có thể cơ quan quản lý đang "nhìn" TTCK như một nơi cờ bạc, nên thị trường này trở thành "đứa con ghẻ" trong hầu hết các chính sách liên quan đến thị trường vốn. Nhưng chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn để phát triển nền kinh tế. Vì vậy, không thể gạt nó ra nếu chúng ta thực sự muốn tái cấu trúc nền kinh tế.

- Nhưng "nhìn" như vậy có lẽ cũng không oan, TTCK đã có nhiều thời điểm trở thành nơi "đánh quả" cho cả nhà đầu tư và doanh nghiệp...?

Không thể phủ nhận yếu tố "cờ bạc" của TTCK trong thời gian qua. Thể hiện đầu tiên là giữa những người mua bán - là các nhà đầu tư, mua đẩy giá tăng đem bán, bán quá đâm ra giảm. TTCK liên tục đi từ thái cực này sang thái cực khác không theo một quy luật nào. Thứ hai là doanh nghiệp trong vai trò người bán. Tình trạng phát hành vô tội vạ nhưng sử dụng không có hiệu quả. Doanh nghiệp niêm yết huy động vốn của cổ đông nhưng thay vì đầu tư, sản xuất thì lại "ném" trở lại chứng khoán... Những điều này đã khiến TTCK của ta đi lệch với định hướng, với bản chất của nó. Tuy nhiên, lỗi này cũng do sự dung túng, sự buông lỏng của cơ quan quản lý. Chính vì thế, tái cấu trúc TTCK để đưa nó về đúng vai trò, nhiệm vụ... theo tôi, càng trở nên cấp thiết hơn.

- Nếu bỏ qua TTCK trong bức tranh tái cấu trúc hiện nay, điều gì sẽ xảy ra, thưa ông?

Tôi khẳng định là, muốn tái cấu trúc kinh tế, không thể bỏ qua TTCK. Tái cấu trúc nền kinh tế trong đó có 3 vấn đề lớn được nghị trường Quốc hội nhắc đến là tái cấu trúc ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đầu tư công. Cả 3 vấn đề này đều "cần" đến vai trò của TTCK trong quá trình tái cấu trúc của mình.

Đầu tiên là ngân hàng. Nền kinh tế của ta lâu nay vẫn dựa chủ yếu vào dòng vốn ngắn hạn từ tín dụng ngân hàng. Nên khi dòng vốn này bị thu hẹp thì tăng trưởng kinh tế cũng giảm. Thậm chí, chỉ cần lãi suất biến động cũng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Năm 2011 là minh chứng rõ ràng nhất. Khi tín dụng bị "siết" lại, ngay lập tức hàng loạt doanh nghiệp phá sản. Vì vậy phát triển TTCK sẽ giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng không còn là kênh huy động vốn duy nhất như hiện nay mà sẽ trở về đúng vai trò của mình là cung cấp vốn ngắn hạn. Còn nguồn vốn trung và dài hạn sẽ được huy động qua TTCK.

Thứ hai là tái cấu trúc các DNNN. Muốn cổ phần hóa DNNN thì phải có phương tiện, đó chính là TTCK. TTCK không phát triển thì người mua sẽ không thể tham gia mua cổ phiếu được cổ phần hóa. TTCK cũng là nơi giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, các định chế tài chính, giám sát cả nền kinh tế. Chúng ta vẫn thường nghe nói chứng khoán là hàn thử biểu của nền kinh tế, là nơi "đo" sức khỏe của doanh nghiệp, của nền kinh tế. Nên không thể bỏ qua TTCK nếu muốn tái cấu trúc các DNNN.

Cuối cùng là tái cấu trúc đầu tư công. Tôi không đồng tình với việc gọi cắt giảm đầu tư công là tái cấu trúc. Nhưng đây là một câu chuyện dài và đã được nói đến rất nhiều nên tôi không đi sâu vào vấn đề này. Tôi chỉ khẳng định, đầu tư vẫn cần thiết để tăng trưởng kinh tế. Nên cắt giảm đầu tư công thì phải có dòng vốn thay thế để tăng trưởng kinh tế. Theo tôi, dòng vốn này phải huy động trong dân, huy động ở nước ngoài thông qua TTCK.

Nếu chúng ta nhìn TTCK ở góc độ như nói trên thì rõ ràng, không thể gạt chứng khoán ra khỏi câu chuyện tái cấu trúc kinh tế hiện nay.

- Cụ thể, TTCK sẽ tái cấu trúc như thế nào, theo ông?

Theo tôi, tái cấu trúc phương thức thanh toán là mấu chốt. Hiện việc thanh toán được thực hiện trên tài khoản tổng của các công ty chứng khoán (CTCK). Nghĩa là người mua và người bán phải thanh toán với nhau qua tài khoản tổng ở CTCK. Lợi dụng điều này, các CTCK lao vào cho nhà đầu tư vay tiền mua chứng khoán; bán khống cổ phiếu... làm cho thị trường bị méo mó, biến dạng. Bỏ tài khoản tổng, người mua và người bán sẽ thanh toán trực tiếp qua tài khoản ở ngân hàng. Khi đó, các CTCK sẽ chỉ thực hiện hình thức môi giới, tư vấn đầu tư, tư vấn doanh nghiệp thuần túy. Họ sẽ phải cạnh tranh với các quỹ đầu tư trong việc quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư cho các tổ chức và các cá nhân. Sự cạnh tranh này sẽ đào thải các CTCK yếu mà không ảnh hưởng đến thị trường và quyền lợi của nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, cũng nên nghiên cứu đến việc chuyển hoạt động tự doanh của các CTCK sang quỹ đầu tư để tránh xung đột lợi ích giữa CTCK với nhà đầu tư, giữa CTCK với tổ chức tư vấn và bảo lãnh phát hành... Tách ra còn để tránh việc các CTCK phát triển thành mô hình ngân hàng đầu tư đã bị sụp đổ trên thế giới.

Nếu tái cấu trúc theo cách này, tính minh bạch và cơ chế giám sát sẽ tăng cao. TTCK sẽ trở về đúng vai trò, vị trí và bản chất của mình là kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Giảm 50% Công ty chứng khoán hiện tại

Những thời điểm đỉnh điểm, giá trị giao dịch trên TTCK khoảng 5.000 tỷ/phiên, trung bình thì 2.500-3.000 tỷ/phiên, trong khủng hoảng trung bình 1.200 tỷ/phiên. Tính theo phí giao dịch (trung bình 0,3%/giá trị giao dịch) thì cao nhất 30 tỷ/phiên, trung bình 15 tỉ/phiên, trong khủng hoảng thì 9 tỷ đồng/phiên. Như vậy trung bình mỗi tháng phí giao dịch cao nhất là 780 tỷ đồng; trung bình 390 tỷ đồng và trong khủng hoảng lúc này chỉ 230 tỷ/tháng. Nếu chia đều, mỗi công ty CK hiện nay có doanh thu khoảng 2,3 tỷ đồng/tháng. Thu nhập này không thể duy trì bộ máy, khấu hao, tiền thuê mặt bằng... chưa nói đến chi phí vốn đầu tư. Những con số trên cho thấy số lượng CTCK hiện quá nhiều cần phải giảm hơn 1/2. (Tiến sĩ Lê Đạt Chí)

(Theo Thanh Niên)

Xuất khẩu Nhật Bản sụt giảm mạnh

Posted: 20 Nov 2011 07:23 PM PST

19305

9

/2011-11-21-xuat-khau-nhat-ban-sut-giam-manh

Kinh tế 24h

Tác giả: HungNinh (Theo Reuters)

Bài đã được xuất bản.: 21/11/2011 10:23 GMT+7

Xuất khẩu tháng 10 của Nhật Bản giảm nhanh nhất trong vòng 5 tháng trước đó, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển ì ạch do ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu. Bên cạnh đó duy trì đồng Yên mạnh cũng là một rào cản không nhỏ đối với nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới này.

Tính đến tháng 10, xuất khẩu nước này giảm 3,7%. Vào tuần trước Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã cảnh báo, nền kinh tế thế giới sẽ tiếp tục bị "dính đòn" từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu. Và các nền kinh tế mới nổi cũng như Nhật Bản không phải là một ngoại trừ.

Mối quan ngại gia tăng khi Nhật Bản phải vật lộn với sự tăng giá của đồng Yên và nhu cầu sụt giảm ở nước ngoài. Ngân hàng trung ương đang phải chịu áp lực về việc thực hiện chính sách tiền tệ sao cho có thể kiểm soát được tình hình hiện nay.

Các nhà hoạch định chính sách dự báo nền kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng chậm trong giai đoạn tháng 10-12. Trước đó những nỗ lực hồi phục nền kinh tế sau thảm họa thiên tai đã có những dấu hiệu khả quan. Trong khi đó Nhật Bản cũng phải tính toán về kế hoạch chi tiêu để củng cố cũng như cải thiện nền kinh tế.

Ông Takeshi Minami, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Norinchukin cho biết:  "xuất khẩu có thể sẽ còn giảm trong vài tháng tới do nền kinh tế toàn cầu dự kiến ​​còn tiếp tục khó khăn và bế tắc".

Báo cáo cho thấy xuất khẩu sang Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, giảm 7,7%. Trong khi đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 2,3%, sang châu Âu giảm 2,9%.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Giá vàng nội bất ổn so với giá thế giới

Posted: 21 Nov 2011 09:18 AM PST

Giá vàng trong nước trồi sụt

Vàng trong nước tuần qua cũng chứng kiến trồi sụt mạnh. Phiên đầu tuần hôm 14/11, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 46,45 triệu đồng/lượng - 46,6 triệu đồng/lượng, các phiên tiếp theo giá vàng đi xuống, mức giảm từ 350.000 đồng - 450.000 đồng/lượng.

Tới phiên cuối tuần thứ Bảy (19/11), giá vàng SJC chỉ còn ở mức 45,75 triệu đồng/lượng - 45,95 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). So với phiên đầu tuần thì giá vàng đã sụt giảm 650.000 đồng/lượng (mua vào) và 800.000 đồng/lượng (bán ra).

Như vậy, tuần qua, giá vàng trong nước đã sụt giảm gần 600.000 đồng/lượng so với phiên cuối tuần trước hôm 12/11, tức giảm khoảng 1,24%.


Giá vàng trong nước tuần này dược dự đoán trồi sụt


Điều thu hút sự quan tâm của dư luận trong tuần qua đó chính là việc giá vàng miếng Rồng Thăng Long của công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu niêm yết thấp hơn giá vàng SJC cùng thời điểm.

Hôm thứ Hai (14/11), giá vàng miếng Rồng Thăng Long của công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu  thấp hơn 600.000 đồng/lượng (mua vào) và 400.000 đồng/lượng (bán ra). Tuy nhiên, đến phiên cuối tuần (19/11), giá vàng miếng Rồng Thăng Long thấp hơn giá vàng của SJC 800.000 đồng/lượng.

Nguyên nhân của tình trạng này được ông Vũ Minh Châu - Tổng giám đốc Công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu giải thích là do sau khi có thông tin về siết chặt buôn bán, sản xuất kinh doanh vàng miếng, nhiều người đi bán ra vàng miếng nhãn Rồng Thăng Long, dẫn đến lượng người bán nhiều hơn người mua. Ngoài ra, một số khách hàng muốn chuyển đổi sang vàng nhãn SJC, điều này làm mất cân bằng tiền mặt.

"Khan hiếm tiền mặt, dẫn đến khó bán lẻ mà buộc phải bán buôn cho các bạn hàng. Thậm chí, một số bạn hàng cũng không muốn mua với mức giá cao, khách hàng cũng muốn mua giá thấp để đề phòng rủi ro. Nên, việc hạ giá vàng miếng Rồng Thăng Long thấp hơn giá vàng SJC là bất đắc dĩ và Bảo Tín Minh Châu cũng không muốn như thế", ông Châu chia sẻ.

Tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng tuần qua tiếp tục đứng yên ở mức 20.803 đồng/USD. Tính tới 19/11, tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng không thay đổi trong 20 phiên liên tiếp. Trước đó, trong 24 ngày của tháng 10, tỷ giá tăng tới 14 lần với tổng mức tăng là 175 đồng/USD (0,85%).

Dư địa của việc tăng tỷ giá từ nay đến cuối năm chỉ còn 0,15%, tương đương 31 đồng, nếu theo đúng cam kết của thống đốc Ngân hàng Nhà nước "tỷ giá không tăng quá 1%".

Theo dự đoán của các nhà đầu tư có kinh nghiệm thì giá vàng trong nước tuần tới khả năng sẽ trồi sụt trong vùng 45- 46 triệu đồng/lượng.

Theo lời một số nhà đầu tư thì việc đưa ra dự đoán mức giá cụ thể là khó, bởi giá vàng thế giới tuần tới có khối lượng giao dịch ít do thị trường Mỹ nghỉ lễ và cũng còn phụ thuộc tín hiệu từ châu Âu.

Giá vàng thế giới đi lên

Tuần chốt phiên hôm 18/11, giá vàng giao tháng 12 trên sàn Comex giảm còn 1.725 USD/ounce.

Theo khảo sát hàng tuần của hãng Kitco với 24 người là nhà đầu tư, chuyên gia phân tích, đại lý vàng kết quả cho thấy có 13 người nhận định giá vàng tuần tới đi lên, 10 người cho rằng giá vàng sẽ giảm và 1 người không đưa ra nhận định.

Những người dự đoán giá vàng tăng cho rằng, giá vàng về mức 1.700 USD sẽ khiến nhiều người tìm mua. Nếu mức giá ổn định trong các phiên tuần này thì sẽ hút các nhà đầu tư quay về với vàng.

Ngoài ra, khu vực Eurozon nếu phát đi các tín hiệu sáng sủa về nợ công thì vàng sẽ có cơ sở để được hỗ trợ và giá sẽ bật tăng mạnh. Đây đúng là lúc vàng thể hiện vai trò là một tài sản rủi ro.

Tuần tới, thị trường Mỹ có ngày nghỉ lễ Tạ Ơn (24/11) và khả năng khối lượng giao dịch thấp. Thị trường chỉ sôi động vào 3 ngày đầu tuần, còn ngày thứ Sáu nhiều người sẽ nghỉ lễ và kéo dài đến các ngày tiếp theo. Khối lượng giao dịch thấp nên nhà đâ sẽ thấy không cần thiết để đánh giá xuống hay đẩy giá lên quá cao.

Ngân hàng Deusche Bank cho hay, đồng USD với sức mạnh của nó đang ảnh hưởng đến thị trường. Tuy nhiên, các ngân hàng TW và quỹ ETF mua mạnh nên giá vàng vẫn có động lực.

Các chuyên gia đến từ Barclays Capital nhận định, theo phân tích kỹ thuật, nếu giá vàng tuần tới giảm xuống còn 1.705 USD/ounce, thì sẽ không còn bám móc 1.700 USD/ounce và quay về mốc 1.686 USD/ounce. Nhưng nếu giá có khả năng vượt được mức kháng cự gần nhất là 1.741 USD, thì sẽ chinh phục tiếp mức 1.750 USD/ounce

Chuyên gia Dennis Gartman cho rằng, việc bán tháo của các nhà đầu tư sẽ khiến cho nhiều người không yên tâm và tiếp tục bán tháo. Thị trường lo ngại về việc quỹ phòng hộ sẽ bán vàng để giữ tiền mặt do thị trường chứng khoán cũng bao trùm sắc đỏ.

Ông Gartman nhấn mạnh: "Trong dài hạn, xu hướng giá vàng đi lên. Nhưng trong ngắn hạn sẽ có đôi chút nguy hiểm và chúng ta không có lựa chọn nào khác, mà phải tận dụng xu hướng tăng của ngày hôm nay (18/11) và đầu tuần tới để giảm bớt vị thế".

Còn ông Robin Bhar, nhà phân tích kim loại cao cấp của Credit Agricole-CIB nhận định, vàng không còn là tài sản an toàn, mà trở thành tài sản rủi ro.

Theo Anh Minh (VTC)

Bảo hiểm mất hàng chục tỷ USD vì lũ lụt Thái Lan

Posted: 21 Nov 2011 05:56 AM PST


Những chiếc xe của nhà máy lắp ráp ôtô Honda ở tỉnh Ayutthaya, phía bắc thủ đô Bangkok bị ngâm trong nước lũ ngày 19/11. (Nguồn: AFP/TTXVN)


Ông Lutz nói rằng những thiệt hại trên bao gồm tiền bồi thường cho các chủ thầu xây dựng ở Thái Lan cũng như các nhà chế tạo trên khắp thế giới bị gián đoạn sản xuất do việc đóng cửa các nhà máy ở Thái Lan.

Ông nói: "Đối với Thái Lan, đây là một thảm họa gây tốn kém nhất về giá trị bảo hiểm, cho dù tính cả thảm họa năm 2004 và các cuộc đụng độ bạo lực hồi năm ngoái. Thiệt hại do đợt lũ lụt vừa qua gây ra lớn hơn nhiều."

Ông Lutz đưa ra số liệu tính toán của một đại diện bảo hiểm của Thái Lan với thiệt hại lên tới 30 tỷ USD cho dù vẫn còn quá sớm để thẩm tra số liệu này.

Ông Lutz còn lưu ý rằng việc tính toán thiệt hại thực tế do trận lũ lụt vừa qua gây ra có thể mất nhiều năm, liên quan đến việc đánh giá những thiệt hại kinh doanh đối với Thái Lan do các nhà đầu tư có thể chọn đầu tư vào các nước khác như Indonesia, Việt Nam và Ấn Độ để giảm rủi ro do tập trung sản xuất vào một nước.

Tính đến cuối tháng 10, đã có hơn 400 công ty Nhật Bản phải ngừng hoạt động hoặc giảm sản lượng do lũ lụt ở Thái Lan. Do vậy, theo ông Lutz, thảm họa trên sẽ khiến ngành bảo hiểm phải đánh giá lại những rủi ro về thời tiết và các thảm họa thiên nhiên khác đối với các vùng công nghiệp đang tăng trưởng nhanh chóng ở châu Á, mà nhiều trong số đó nằm ở những khu vực dễ bị động đất, bão lụt.

Trong báo cáo hồi đầu tháng này, Standard & Poor's cho biết các tập đoàn bảo hiểm phi nhân thọ của Thái Lan có thể thu được tổng số tiền đóng bảo hiểm khoảng 4,7 tỷ USD trong năm nay, điều này có nghĩa ngành bảo hiểm toàn cầu phải mất nhiều năm mới có thể bù lại được những thiệt hại do trận lũ lụt vừa rồi ở Thái Lan.

Allianz cho biết lũ lụt ở Trung Quốc hồi tháng 10/2010 gây thiệt hại về kinh tế 18 tỷ USD, đứng đầu trong danh sách những trận lũ lụt gây thiệt hại nhiều nhất trên thế giới từ năm 2000 đến năm 2010.

Lũ lụt ở Australia hồi tháng 12 năm ngoái đứng ở vị trí thứ năm với 5,1 tỷ USD.

Lũ lụt vừa qua ở Thái Lan đã cướp đi sinh mạng 562 người kể từ cuối tháng Bảy và làm ngập lụt khoảng 900 nhà máy ở bảy vùng công nghiệp phía Bắc Bangkok, đồng thời làm gián đoạn chuỗi cung cấp của nhiều công ty quốc tế, nhất là các công ty trong ngành chế tạo ôtô và ổ đĩa cứng máy tính (HDD), trong đó có Toyota Motor Corp, Sony Corp và Lenovo Group Ltd.

Phó Thủ tướng Thái Lan cho biết thảm họa trên có thể lấy đi 2,5-3 điểm phần trăm tốc độ tăng trưởng GDP của nước này.

Theo Hải Yến (TTXVN/Vietnam+)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét